Thỉnh Nguyện Thư lên Quốc Hội Canada về Nhân Quyền VN

Mời các Anh Chị Em khắp nơi trên thế giới ký vào ủng hộ người Việt Canada về việc trình Thỉnh Nguyện Thư lên Quốc Hội Canada về Nhân Quyền VN

1/ Thỉnh nguyện thư (TNT) gửi Quốc Hội Canada

Để nhiều người có thể tham dự vào TNT, sau khi tham khảo văn phòng Dân Biểu Paul Dewar — người sẽ thay mặt Liên Hội đệ trình TNT thư lên Quốc Hội Canada – và văn phòng Thỉnh Nguyện Thư Quốc Hội (Petition Clerk), Ban Chấp Hành Liên Hội quyết định gia hạn ký tên vào TNT và gửi về văn phòng Liên Hội tại Ottawa tới 5g chiều ngày 22-3-2012. Với hạn chót mới này, Dân Biểu Paul Dewar sẽ có thể đệ trình TNT được trước khi Quốc Hội bắt đầu kỳ nghỉ Phục Sinh vào ngày 5-4.

Ngoài ra, để đồng bào tại các quốc gia khác — không phải thường trú dân hoặc công dân Canada — cũng như những người không có dịp ký vào TNT để gửi về Ottawa, có thể hỗ trợ tinh thần nỗ lực chung này, Ban Chấp Hành Liên Hội đã đưa TNT lên liên mạng qua hình thức “thỉnh nguyện thư trực tuyến” (petition online) tại địa điểm liên mạng (website) dưới đây để mọi người có thể vào và ghi tên ủng hộ trước ngày 2-4-2012.

http://www.gopetition.com/petitions/violations-of-human-rights-in-vietnam.html

Những người đã ký vào bản TNT cũng có thể ký thêm vào bản TNT trực tuyến này để thể hiện tình đoàn kết với đồng bào tại các quốc gia khác trong cuộc tranh đấu chung cho dân chủ tự do, và nhân quyền tại quê nhà.

Xin quý vị Click link gopetition phía trên :

- Dưới hàng danh sách những người đã ký click chữ View Petition
- Dưới trang nầy quý vị click khung màu xanh với hàng chữ Sign The Petition
- Điền vào các câu hỏi trong các khung.

Vậy là Xong.

Bà con ở các nước trên thế giới có thể ký vào.

Kính chúc quý vị một ngày thật an vui

Chúng tôi xin nhắc lại là chỉ có những bản có chữ ký và địa chỉ như Ban Chấp Hành Liên Hội đã thông báo trước đây (phụ đính) mới được đệ trình lên Quốc Hội Canada.

Cư dân Canada có thể pick up Thoi Báo (6 ấn bản tại Canada), Toronto thì số 1887 phát hành thứ Năm tuần trước, xé 2 tờ của trang 166-167 là bản Thỉnh Nguyện Thư bằng tiếng Anh, bên dưới có 9 hàng có thể ký tên và ghi địa chỉ, mang đến tòa soạn Thời Báo để tập trung gởi về Ottawa hoạc có thể tự gởi. 2 trang báo khổ lớn là đúng size của Quốc Hội Canada qui định cho TNT. Trang 168 là bản dịch qua tiếng Anh.

ĐƯỜNG TA ĐI: Phụ Lục

Bài 1

THỜI ĐẠI DÂN TỘC

Lương Kim Định

Trước đây vài chục năm mà nói đến dân tộc thì dễ bị coi là người cổ lỗ, đi bàn những chuyện trái với đà tiến bộ của loài người đang cần vượt qua mọi giới mốc của làng nước để băng mình vào đại dương nhân loại, để cho tình yêu con người không bị ràng buộc trong những giới mốc nhỏ hẹp .v.v…

Trái lại ngày nay đã có rất nhiều học giả, triết gia nhận ra chính đó là một hướng tiến tai hại cần phá đổ và dồn sức vào việc bênh vực không những dân tộc mà còn cả những cộng đồng nhỏ làm nên quốc gia như làng xã, gia đình, vì đấy là những gốc rễ thực sự của dân tộc, mà thiếu nó, con người sẽ trở nên đoàn lũ* tức những con người thiếu phẩm tính, rất dễ bị thác loạn tinh thần, và dễ dàng trở nên những con vật ngoan ngoãn để nhà nước chăn nuôi trong những chuồng trại khổng lồ**

* Đoàn lũ: Bọn, bầy, tiếng gọi một tốp đông với giọng khi dể: Kéo đoàn lũ tới (Việt Nam Tự Điển của Lê Văn Đức). Ở đây, tác giả muốn ám chỉ người dân sống vô vọng dưới sự cai trị khắc nghiệt, vô nhân của các chế độ đọc tài toàn trị như chế độ cộng sản.

** Nên đọc quyển sách thời danh “A human economy” của Witten Ropke, Indianapolis, 1971.

Chính vì thế mà xưa nay những chủ thuyết mở đường cho chuyên chế thường coi khinh dân tộc, và tìm mọi cách dìm xuống nếu không phá đổ mọi liên hệ gia đình, làng xã, như ta thấy trong “tam vô” của cộng sản thì vô gia đình đứng đầu rồi tới vô quốc gia. Vì một khi con người bị nhổ ra khỏi vòng tay của quê hương dân tộc thì liền trở nên cá nhân trơ trọi từ trong tâm trí, không còn biết hiến thân tâm cho ai hay lý tưởng nào. Thế là đảng và nhà nước tha hồ tuyển chọn cán bộ.

Đến nay nhiều triết gia, tâm lý gia mới nhận ra rằng, một khi con người bị mất gốc dân tộc thì ví được với những người bị đắm tàu, lạc lõng trên đảo hoang vu không nhà, không bến để đi tới. Tâm bệnh trên thế giới hiện đang gia tăng trầm trọng thì căn do sâu xa chính là vì mỗi ngày con người mỗi bật mạnh ra khỏi rễ dân tộc. Người ta nhận xét rằng, ngững dân sống trên các đảo Thái Bình Dương chết dần mòn gần tuyệt chủng không phải vì bị tiêu diệt, mà chính vì họ bị tước đoạt những giá trị dân tộc, những cái làm nên phẩm giá, làm nên sinh thú cho cuộc sống đáng sống không còn nữa.

Đã một dạo nhiều người cổ động cho thuyết cần vứt bỏ mọi liên hệ với dĩ vãng. Nhưng nay, khi nhìn bao quát sử trình của nhân loại, người ta nhận ra một sự trái ngược với niềm tin tưởng trên, tức là những vĩ nhân của nhiều thời đại đã đưa nhân loại tiến bước mạnh nhất, thì bao giờ cũng đi kèm với những cái nhìn sâu sắc về dân tộc. Cái nhìn càng sâu sắc thì cách mạng càng trung thực, càng ơn ích. Lý do là vì những người làm nên cuộc cách mạng đó tỏ ra rất quan tâm đến văn hóa sử, không những nhìn xa về tương lai, mà còn đủ sức nhìn rất sâu về dĩ vãng, để rút kinh nghiệm bảo đảm cho tương lai. Nhờ sự nhìn sâu về nguồn gốc văn hóa dân tộc, họ tìm ra được cái lõi, cái nhân đã làm cho dân tộc hùng cường, chứ không dừng lại ở đợt phục cổ, nô lệ cho những ngành ngọn cũ kỹ. Vì thế, phải kết luận, muốn xóa bỏ mọi dĩ vãng của dân tộc để quay ra vọng ngoại, đi tìm lối tiến bên ngoài dân tộc là dấu sắp tàn.

Sở dĩ cộng sản đã thắng thế ở Trung Hoa hay Việt Nam là vì trong lúc giao thời ở đầu thế kỷ này đã thiếu một nền học về dân tộc một cách sâu sắc. Lúc ấy tuy cũng có những cố gắng thử thách nhưng chưa vượt qua đợt văn học về phong tục, tập quán, định chế. Còn thời gian thì thường đứng lại ở giai đoạn Lý, Trần, nếu có nhắc đến thời Hùng Vương thì cũng sơ sài, không ai nhìn ra được giá trị vô biên ẩn trong những truyện tản mác: Sách ước gậy thần, 18 đời Hùng Vương, nước chia 15 bộ… mà chỉ loay hoay đi tính quãng thời gian, sưu tầm tên 15 bộ ở chỗ nào; nghiên cứu xem có dân nào hai ngón chân cái giao nhau; có người đàn bà nào đẻ nổi một trăm trứng v.v… mà không biết vượt lên cao hơn để thấy rằng đó là những ấn tích chỉ lối đưa đến kho tàng văn hóa dân tộc. Thế là bổ ra đi rước các thuyết ngoại lai về, thiện chí là muốn giúp nhà, giúp nước mà kết quả là làm hại dân hại nước đến cùng cực. Chỉ cần so sánh giá trị các nhà lãnh đạo chính cống được hun đúc nên do tinh thần dân tộc với những nhà “lãnh đạo” ngày nay được nuôi dưỡng bằng văn hóa ngoại lai thì đủ thấy khác nhau cả một trời một vực.

Đây là một lỗi lầm chí tử mà thế hệ chúng ta phải trả giá. Bây giờ có than khóc cũng vô ích. Chỉ còn phải làm thế nào để chuộc lại một cách thông minh, tức từ bỏ con đường lưng chừng để đi đến cùng cực con đường dân tộc. Đó là một hướng đã được khởi lên từ chừng một trăm năm nay. Nó ở nơi cái nhìn bao trùm con đường tiến của loài người, rồi nhìn cái đích chung của nhân loại đó làm tiêu chuẩn chắt lọc các giá trị của dân tộc. Bộ “Triết Lý An Vi” cũng đi theo lối đó khi đề ra những chặng tiến của loài người là:

Bái vật*
Ý hệ*
Tâm linh*

* Đó là ba chặng đường mà chúng tôi đã trình bày trong quyển Nguyên Nho theo trực thị. Về sau, khi càng nghiên cứu càng thấy những triết gia lớn, những tâm lý gia đề nghị những nấc thang tương tự. Các triết gia như: August Comte, Grasset, Herder, Vico… tuy số chặng và danh từ có khác nhau, nhưng ý hướng chung thì như nhau, nhất là chặng cuối cùng đang cố vươn tới. Riêng về danh từ và thực chất thì bộ ba trong “Triết lý An Vi” gọn gàng và đầy đủ hơn cả.

Và do đấy mới nhận ra rằng với Việt Nho thì con đường đi về dân tộc cũng chính là con đường đi về nhân tộc, tức là đi đến chỗ cao quý nhất mà những phần tử ưu tú của loài người đều cố gắng hướng về. Dưới ánh sáng tâm linh, chúng ta sẽ thích thú nhận ra rằng, văn hóa của Việt Nam Cổ Đại là một kho tàng vô giá, quả là quê hương của văn hóa trung thực mà huyền sử kêu là Văn Lang. Chúng ta sẽ nhận ra rằng, với Việt Nam thì con đường đi về dân tộc cũng chính là con đường dẫn về nhân tộc, tức là con đường đưa đến sự nảy nở bản tính con người về hết mọi phương diện, đến nỗi những bước tiến vượt bực hiện nay trên phương diện khoa học (vi thể, uyên tâm) lại trở nên những bản khải hoàn ca của triết lý Việt Nho. Chính vì thế, cuộc nghiên cứu về dân tộc nước nhà cũng là sự đóng góp vào cuộc cách mạng chân thực mà con người hiện đại đang mong ước.

Đấy là mấy lời báo hiệu cần thiết và đầy hứng khởi cho chúng ta hiện là những con người đang mất hết, và đang lăn mạnh vào hố của đoàn lũ, của những con người vô phẩm tính vì bị trốc gốc, nên sẽ là những ứng cử viên tốt nhất cho tâm bệnh. Nếu thiếu một cuộc bừng tỉnh thì không bao lâu người Việt đang sống rải rác khắp nơi sẽ tản mát, mất hút vào các địa phương cư ngụ và trở nên một giống vô loài chẳng ra cái chi hết, vì thế cần một cuộc bừng tỉnh.

Hãy làm lại cuộc đời!

Hãy kiến tạo lại một nước Việt Nam mới!

Một Việt Nam xứng danh là Văn Hiến Chi Bang!

Một Việt Nam đi đầu trên con đường tiến hóa!

Cuộc khủng khoảng hiện tại của nhân loại chính là một cuộc khủng khoảng về văn hóa mà chưa tìm ra lối thoát. Chúng ta hãy trùng tu nước Văn Lang!

Hãy thiết lập một sợi dây tinh thần văn hóa mạnh mẽ để ràng buộc đoàn người Việt!

Hãy nhổ người Việt ra khỏi đoàn lũ!

Hãy làm cho mọi người Việt ý thức về dân tộc mình, về nguồn gốc nước Văn Lang cao quý!

Đừng để một tâm hồn Việt Nam nào cô đơn vất vưởng bên ngoài dòng sống của văn hóa dân tộc! Nên nhớ, cộng sản đã truyền bá mạnh trên những tâm trí cô đơn, chứ không truyền bá trên những dạ dày trống rỗng!

Hãy đặt mọi người Việt vào đường hướng văn hóa dân tộc, để mọi người có một chủ đạo mà theo!

Hãy kiến tạo ngay một lớp kẽ sĩ mới, kẽ sĩ đúng tinh thần dân tộc, thay vào lớp “lãnh đạo” đồ bỏ của lớp trí thức vừa qua!

Hỡi những tâm hồn còn dòng máu Văn Hiến Tiên Rồng hãy đoàn kết lại!

Hãy cùng nhau thắp lên ngọn lửa dân tộc, lôi cuốn về cùng một mối tất cả con dân Việt đang sống bơ vơ trên khắp hoàn vũ!

Đó là một nghĩa vụ linh thiêng mà lúc này hơn lúc nào hết, mọi người Việt cần phải nghĩ tới. Đành rằng hiện nay có thể nói hầu như không ai không mong ước điều đó, nhưng phần lớn chỉ mới là ước mong vu vơ, chưa kết tinh vào được một việc cụ thể nào. Cần phải đi mạnh hơn vào con đường hành động. Tuy việc cứu dân tộc, đất nước ta là việc quá lớn lao phiền tạp nhưng ta có thể quả quyết rằng: bước làm được ngay và tất cả mọi người đều làm được là quay về học hỏi nguồn gốc dân tộc hoăc về văn hóa dân tộc. Đó là một con đường gây dựng và cũng cố tình tự dân tộc.

Hãy cố trở nên văn hiến, những người hi hiến thân tâm cho việc phục quốc, cho việc kiến tạo một nước Văn Lang vẹn toàn không những chính trị mà luôn cả văn hóa bằng cách, trước hết, làm cho lớn mạnh sợi dây linh thiêng ràng buộc mọi người Việt khắp nơi. Đó là điều có thể làm liền, và đó cũng là bước sửa soạn cần thiết cho các bước sau được thêm vững.

Chính trong ý hướng đó, chúng tôi đã cố đóng góp vào việc chung kia bằng cách thâu góp mọi suy tư sưu tầm trong hơn 30 năm qua vào hai quyển :KINH HÙNG KHẢI TRIẾT và SỨ ĐIỆP TRỐNG ĐỒNG

Đó là hai quyển sách bao gồm những kinh nghiệm sâu xa của nhiều ngàn năm thuộc Văn Lang Lạc Việt quy tụ chung quanh Trống Đồng, cũng như các chuyện cổ tích của Bách Việt, cùng với những thám quật mới nhất không những ở Việt mà cả ở bên Tầu và vùng Đông Nam Á: Thái, Campuchia, Lào, Nam Dương. Hiện nay, những Trống Đồng Việt cổ là những đề tài đang được chú trọng và bàn luận rất nhiều, tuy nhiên nói chung mới đi hết chặng đầu (bước Một) là sưu tầm, tả lại, tìm hiểu .v.v… còn thiếu bước Hai và Ba.

Bước Hai là tìm ra mối liên hệ nằm ngầm nối kết những dữ kiện tản mác kia lại thành một hệ thống ràng buộc với nhau trong một số cơ cấu uyên nguyên. Có như vậy mới đi tới tận cùng chỗ có thể đi, và việc học hỏi mới trở nên một nền triết lý, một khoa học tạo căn cứ cho những câu nói liên hệ. Vì nguồn gốc là cái gì u uẩn xa xôi mất hút vào bóng đêm thời gian dễ dàng trở nên những câu nói vu vơ cần được cơ cấu tạo cho những tiêu điểm vững vàng.

Bước Ba là từ những cơ cấu kia lại quảng diễn ra bằng ngôn ngữ thời đại, mà đường lối hữu hiệu hơn hết là “tỉ giảo đối chiếu”. Đối chiếu các văn hóa khác nhau trên cấp bậc cơ cấu sẽ giúp rất nhiều để thấy rõ hơn tại sao lại nói Việt Nam không những có Triết, mà còn là một nền Triết vững chắc, tuyệt diệu nhất mà nhân loại đang đi tìm.

Đó là hai bước còn thiếu mà Kinh Hùng Sứ Điệp Trống Đồng cố gắng đi vào. Vì vậy, đó là những sách mới hẳn cả về thể tài lẫn phương pháp, tóm lược theo một khía cạnh riêng biệt tất cả tinh hoa của dân tộc (Việt Lý cũng như Đạo Nho) mà mỗi người Việt đời mới cần phải biết đến. Đó là bó đuốc cần thiết cho đoàn người Việt đang tan tác cả trong thể xác lẫn tâm hồn.

Việt Nam Văn Hiến Muôn Năm!

ĐƯỜNG TA ĐI: Chương VI

Chương VI

ĐƯỜNG TA ĐI

VI/1 .- TÂM TÌNH CỦA NGƯỜI VIẾT

Những phần quý độc giả vừa đọc là tài nguyên tư tưởng của tổ tiên hiền triết Việt tộc, của các triết gia, sử gia, học giả, khoa học khảo cổ… Đông Tây cổ kim mà tôi cố gắng học hỏi, lý giải, tổng hợp, lập luận và phát huy… để làm sáng tỏ hơn nữa những nghi vấn lịch sử và văn hóa còn tồn đọng quá nhiều giữa hai dân tộc Việt-Hoa và những sai lầm nghiêm trọng của văn minh thế giới ngày nay.

Nhằm mục đích giúp cho tác phẩm bớt nặng nề, rườm rà vì phải gánh thêm những ghi chú khô khan, ngoài những ghi chú sách trích dẫn hoặc tên tác giả, chúng tôi tập trung toàn bộ tên sách và tên tác giả trích dẫn vào những trang cuối cùng. Các loại tin tức này đã được phổ biến rất rộng trên sách báo, tài liệu và hầu như ai có lòng quan tâm đến văn hóa nước nhà đều ít nhiều đã đọc qua. Phần khác, việc làm của các người đi trước là cung cấp tin tức sưu khảo và kiến thức văn hóa Việt Nam, còn tôi chỉ dựa vào đó để gợi ý về một lối đi mới mà cố triết gia Lương Kim Định đã đề xướng từ hơn 40 năm qua. Đó là triết lý An Vi, một minh triết cực kỳ thâm sâu, dẫn dắt con người hướng về đời sống chân thiện mỹ mà thế giới ngày nay đang tìm kiếm.

Tôi xin thẳng thắn minh định: Có rất nhiều sự kiện văn hóa Việt tộc quan trọng đã bị chôn vùi hàng bốn, năm ngàn năm cần phải được làm sáng tỏ trước dư luận:

- Các giá trị tư tưởng và truyền thống văn hóa nông nghiệp Việt tộc đã bị người du mục Hoa tộc cổ vay mượn và pha trộn, biến chế bằng truyền thống cường bạo của họ trong suốt nhiều ngàn năm kể từ sau chiến tranh Trác Lộc 2704 tr.CN.

Hình thức vay mượn văn hóa giữa các dân tộc láng giềng là chuyện bình thường. Tuy nhiên, ở đây sự vay mượn mang chủ tâm chiếm đoạt của Hoa tộc cổ bằng cách thay quốc tịch nền văn hóa nông nghiệp định canh Miêu tộc tức Viêm, Việt thành quốc tịch Trung Hoa. Bằng mọi giá, kẻ cường bạo trong suốt dòng lịch sử lập quốc và kiến quốc của họ, mỗi khi có cơ hội đều tìm cách tước đoạt mọi tài sản văn hóa Việt tộc với chủ trương làm cho người Việt quên đi nguồn gốc tổ tiên và văn hóa của họ. Nặng nề nhất, trong suốt giai đoạn 1000 năm đô hộ Việt tộc, người Trung Hoa cổ đã dùng mọi thủ đoạn gian trá và ác độc bôi xóa mọi ký ức văn hóa truyền thống của Việt tộc mà cha ông đã truyền lại từ ngàn xưa.

Do vậy, từ năm 939 là năm Việt tộc tự giải thoát ách đô hộ của Hoa tộc đến nay, hậu duệ Miêu tộc tức Viêm, Việt không còn nhận ra mình là ai?

Ngày nay, nhờ những nhân chứng quan trọng như đức Khổng Phu Tử và học trò của ông, nhờ các cổ vật tìm được từ dưới lòng đất ở Bắc Việt Nam, ở phía Nam Trung Hoa, của các thời đại trước khi du mục Hoa tộc lấn chiếm; nhờ hệ thống ca dao, tục ngữ, phong dao, ca vũ, hát ru em…; nhờ hệ thống làng xã Việt Nam như những bảo tàng viện sống, đã lưu giữ những giá trị văn hóa tuyệt vời đó cho đến ngày nay; nhờ các nước có nhiều liên hệ đến Việt Nam như Pháp, Vatican, Nhật, Mỹ và nhất là Trung Hoa… đã bảo tồn những tài liệu cổ quý gia của Việt tộc… Người Việt Nam đã dần tìn tìm lại được gia tài cực kỳ quý giá của cha ông để lại.

Ngày nay, việc lấy ra dùng lại hoặc cải sửa và phối hợp với nền văn minh Tây phương hiện hữu để làm tăng thêm hiệu quả xây dựng cuộc sống hạnh phúc dân tộc thì đấy là một việc làm vô cùng cần thiết không thể bỏ lỡ!

Khởi sự cho việc làm đó, chúng tôi xin mạo muội trình ra trước công luận tài liệu gợi ý mang dạng những ý niệm khởi đầu được nhen nhúm từ một tấm lòng để cùng hàng ngàn hàng triệu tấm lòng khác mạnh dạn tiến lên:

ĐƯỜNG TA ĐI

Đường đi của người Việt Nam ngày nay không khác gì đường Voi Đi trong truyện ngắn thay lời Phi Lộ ở đầu sách. Con đường huyết mạch và hồ nước linh thiêng ngàn đời của dân ta đã bị bít kín khiến toàn dân khao khát tìm về thanh bình, hạnh phúc của non nước cũ!

Gầy dựng lại Việt Nam trong tương lai quả là một công tác cực kỳ cần thiết và phủ đầy chông gai sau khi xẩy ra biết bao biến cố tàn khốc cho dân tộc. Nhưng không thể nào chúng ta ngồi nhìn và chờ đợi sự bất động tự nhiên thành!!

Chúng tôi vững tin rằng, với tài năng, óc sáng tạo, lòng kiên nhẫn, tính can đảm và nhất là tình yêu tổ quốc nồng nàn của dân tộc Việt Nam, kẻ sĩ Việt Nam… Chắc chắn một nước Việt Nam thanh bình, thịnh vượng, người vị người sẽ xuất hiện.

Chẳng riêng gì người Việt yêu tự do làm được mà người Việt cộng sản cũng làm được nếu các anh chị ấy thật tâm muốn tìm cho Việt Nam một lối thoát trong danh dự cho tổ quốc, nòi giống và cả cho các anh. Lịch sử sẽ ghi lại công ơn các anh hay nguyền rủa các anh đều nằm trong sự quyết định hôm nay. Việc đó vô cùng cấp bách không thể chần chờ được nữa !!

Chúng ta đã thấy, ngoài nhu yếu vật chất mà con người dựa vào khoa học để có, còn một thứ nhu yếu khác là tinh thần gồm cả một hệ thống cực kỳ thâm sâu: lương tri, tình cảm, luân lý, đạo đức, tâm linh, tiềm thức, thần linh… Những nhu yếu ấy chẳng những không thể thiếu được trong mọi tầng lớp xã hội Việt tộc mà còn giúp cho nhân loại sớm đạt được thái hòa.

Dựa vào những hệ luận phát sinh từ suy lý, con người ngày nay được thế giới Tây phương cổ vũ cho việc vận dụng lý trí để suy diễn, để tranh thủ quyền lợi, tiền tài, danh vọng… cho dù phải dẫm lên lương tri, đạo đức, luân lý, tôn giáo… Cán cân công lý Tây phương đã nhiều lần chứng tỏ sự yếu kém của nó trước miệng lưỡi của suy lý…

Tại sao phía Tây phương mới mở được một vế trong việc xây dựng hạnh phúc cho xã hội loài người thì đã đứng khựng lại?

Dùng vế suy lý ấy viện dẫn hiến chương, hiến pháp, luật lệ để khống chế, đàn áp, hủy diệt những truyền thống luân lý, đạo đức, tâm linh tốt đẹp của loài người? Đó là một việc làm lầm lẫn vô cùng tai hại khiến nhân loại đi mãi từ xáo trộn này đến hỗn loạn khác mà không bao giờ chấm dứt được. Bởi vì, không thể dùng vế suy lý để khống chế vế tinh thần hoặc ngược lại, đó là chân lý. Trước một vấn đề, nhất là vấn đề liên hệ đến tính cảm, đến tâm linh, suy lý có nhiều đường để quyến rủ người nghe đi vào sai lầm. Tỉ dụ thực tế: Người Đức đã dùng suy lý để dẫn dắt dân tộc Đức đi vào chiến tranh thế giới, tiêu diệt hàng chục triệu sinh mạng. Người cộng sản đã dùng suy lý dẫn tới duy vật biện chứng để tạo hận thù giai cấp, hủy diệt tôn giáo, giết chết hoặc lôi cuốn hàng tỷ người vào cảnh lầm than, thống khổ hàng hai phần ba thế kỷ…

Chẳng những thế, càng về sau sự rối loạn của thế giới loài người càng phức tạp, càng tinh vi, càng khó chữa trị.

Bởi đó, chúng tôi mạnh dạn đề nghị với người Việt trong nước cũng như ở hải ngoại, hãy can đảm ngồi lại với nhau, tháo gỡ mọi hận thù dĩ vãng, mọi dị biệt tư tưởng để hướng về một Việt Nam sáng ngời trong tương lai:

VI/2 .- XIN XEM ĐƯỜNG TA ĐI NHƯ GỢI Ý CHO MỘT LỘ TRÌNH SƠ THẢO

Hãy chấp nhận và quyết tâm xây dụng một quốc gia Nhân chủ, Nhân trị, Tự do, Dân chủ và Bình sản cho tổ quốc, dân tộc Việt Nam.

Dựa trên năm nguyên lý căn bản như sau :

VI/2A .- NGUYÊN LÝ NHÂN CHỦ

Mẫu người Nhân chủ là mục tiêu để chính quyền dẫn dắt, giáo dục toàn dân noi theo đồng thời là nền móng để tiến tới xã hội nhân bản toàn diện. Xã hội này được xây dựng trên ba yếu tố chính :

1 : Lấy con người làm căn bản, mọi vấn đề đều khởi điểm từ con người trên căn bản Nhất nguyên Lưỡng cực. Con người làm chủ Giao ước để có xã hội trật tự. Giao ước đó được xây dựng trên năm đức tính căn bản: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín.

2 : Con người là sự kết hợp hoàn thiện giữa thể xác và tinh thần mà đỉnh cao là con người Nhân chủ. Lấy con người Nhân chủ làm đối tượng phấn đấu để góp sức cùng nhau xây dựng xã hội hoàn thiện đó là xã hội Tự do, Dân chủ, Nhân trị và Bình sản.

3 : Con người Nhân chủ ngoài sự phấn đấu để trở thành mẫu người hoàn thiện nghĩa là làm chủ bản thân, làm chủ công ích, công sản, quốc ước, thiên nhiên… còn có một đời sống tư riêng, đó là đời sống tinh thần. Biểu hiệu của đời sống tinh thần là: đạo đức, luân lý, lương tri, tín ngưỡng tâm linh, tiềm thức… Đề cao và cổ vũ đời sống tinh thần, một trong hai cực nền tảng của triết lý Nhất nguyên Lưỡng cực. Đây là đường lối hay nhất tạo sự quân bình trong cuộc sống của mỗi người, mỗi gia đình dòng tộc hay từng cộng đồng trong xã hội.

Nói chung, con người Nhân chủ là tự mình biết phấn đấu sống theo đạo lý gọi là quốc đạo, tự mình kềm chế các tính hư nết xấu và tự mình chăm lo cho cuộc sống của mình, từ đó con người mỗi ngày một trở nên hoàn thiện hơn.

Khi xã hội đã có những bước tiến vững vàng, mẫu người Nhân chủ tiến thêm một bước cao hơn. Đó là con người toàn thiện với Tam tính: tính Dũng, tính Trung dung và tính Thích nghi để xã hội có thái hòa. (Xin xem thêm Mục III/6.- “Thương Em Từ Thủa Tiên Rồng, Tiểu mục III/6B)

VI/2B .- NGUYÊN LÝ NHÂN TRỊ

Nhân trị là trị nước theo cái đức của người, dùng nhân ái để cảm hóa con người cởi bỏ điều xấu, thi hành điều tốt. Chế độ Nhân trị dùng Quốc ước thay cho Hiến pháp. Quốc ước tức là giao ước của toàn dân, do Quốc hội soạn thảo và Tổng thống ban hành. Triết lý Nhất nguyên Lưỡng cực là minh triết chủ đạo trong việc xây dựng và lãnh đạo quốc gia xã hội, nền tảng thiết lập Quốc ước, trong đó, mọi vấn đề phải được giải quyết linh động, hợp tình, hợp lý tùy theo mỗi trường hợp. Quốc ước có khen thưởng có khuyên răn và trách phạt chứ không cứng ngắt một chiều suy lý và xử phạt tính theo suy luận và cân đo mang dạng toán học của các tòa án dựa vào Hiến pháp và Luật pháp hiện nay.

VI/2C .- NGUYÊN LÝ DÂN CHỦ

Một trong những hình thức chính quyền mà điều đặc trưng là việc tuyên bố chính thức và thực hiện trọn vẹn nguyên tắc thiểu số phục tùng đa số cũng như thừa nhận quyền tự do và bình đẳng của mọi công dân.

Toàn dân làm chủ quốc gia. thể hiện vị thế làm chủ bằng ứng cử và bầu cử tự do trong các cuộc đầu phiếu trên toàn quốc để chọn ra các cơ cấu lãnh đạo quốc gia gồm ba cơ quan: Lập ước, Hành ước và Tôi cao Quốc ước.

Ở các địa phương như tỉnh, quận, làng xã, phường hay thành phố, thị trấn… các cơ cấu điều hành đều do người dân bầu ra. Tất cả mọi chức vụ dân cử đều có nhiệm kỳ cố định do Quốc hội Lập ước quyết nghị, Hành pháp ban hành và Tối cao Quốc ước minh chứng.

VI/2D .- NGUYÊN LÝ TỰ DO

Tự do trong ý thức Nhân chủ

Tự do trong niềm tin, quý trọng và yêu thương Quốc ước

Tự do theo bản tuyên ngôn nhân quyền Liên hiệp quốc.

VI/2E .- NGUYÊN LÝ BÌNH SẢN

Hạnh phúc lâu bền và thực sự của xã hội, luôn luôn phải được xây dựng trên hai yếu tố: Đời sống no ấm và tinh thần an nhiên tự tại của một người có ý thức Nhân chủ thực sự. Muốn có ấm no, an nhiên tự tại cho người dân… Quốc gia phải tạo điều kiện hợp tình hợp lý cho người dân có công việc làm ăn, đồng thời hạ thấp cách biệt giàu nghèo và ngăn chặn cảnh người bóc lột người, hà hiếp người.

Để thực hiện chủ trương bình sản, chúng tôi xin gợi ý vài điểm chính:

- Chuyển hướng dần thói quen cá nhân chủ nghĩa, anh hùng chủ nghĩa trở thành mẫu người phát triển cộng đồng*

* Phát triển cộng đồng tức là vận động, hướng dẫn, giúp đở, mở rọng thêm nhiều lãnh vực sinh hoạt trong xã hội để vận động người dân tham gia các công tác cộng đồng trong các lãnh vực xã hội, bác ái, công ích… Nói chung, đó là tất cả mọi người cùng chung sức nhau mở mang tiện ích, mở rộng kiến thức làm cho đời sống người dân trong khu vực hướng thiện, tốt đẹp hơn.

- Thay đổi dần cách làm ăn cá thể bằng hợp tác công ty có tính cách đại chúng hay gia tộc, đồng hương, đồng nghề, đồng phái tính, đồng đạo, đồng môn…

- Mọi công nhân đều có quyền lợi trên tài nguyên và tài sản mà họ đã tham gia góp công, góp của để kiến tạo. Từ đó họ được chuyển đổi dần dần để trở thành thành viên có quyền lợi trong công ty mà họ đã cộng tác.

- Phân chia lại ruộng đất và yểm trợ tích cực cho nông dân phát triển nông nghiệp. Chúng tôi xin gợi ý một số phương cách như sau :

1) Nông dân lãnh ruộng của địa chủ, chính phủ, làm rẽ và đóng địa tô cho chủ trong một thời gian nhất định. Sau đó, phần ruộng làm rẽ ấy sẽ thuộc quyền sở hửu của người nông dân ấy với sự giúp đỡ tích cực của chính quyền trung ương và địa phương.

2) Nông dân góp ít nhất là 1/10 tiền đất, chính quyền cho vay với lãi xuất nhẹ số tiền còn lại để mua đứt thửa ruộng. Sau đó nông dân sẽ trả góp trở lại chính phủ cho đến khi hết nợ.

3) Ấn định mỗi địa chủ chỉ được giữ một số đất tối đa, số còn lại phải bán cho chính phủ theo hình thức mua quốc trái. Chính phủ cung cấp đất ấy cho nông dân canh tác.

Các công tác đào kinh dẫn nước nhập ruộng, rửa phèn, xã mặn, phân bón, thuốc sâu rầy, hạt giống tốt, cung cấp các loại thiết bị, máy móc cơ khí nông nghiệp… cho đến việc tổ chức các khóa huấn luyện cán bộ nông nghiệp đều phải được chính quyền chuyên tâm chăm sóc lo lắng.

VI/3 .- XÂY DỰNG CON NGƯỜI VÀ XÂY DỰNG XÃ HỘI

Những ý kiến trên chỉ là khái niệm tổng quát suy ra từ kiến thức rất hạn chế của người viết về vấn đề nông nghiệp trong việc xây dựng đời sống ấm no cho người dân. Chúng tôi tin rằng, các chuyên gia về nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, kỹ nghệ, xã hội, chính trị… với kinh nghiệm và tài năng sẵn có, chắc chắn có thể vạch ra được con đường xây dựng bình sản hợp tình hợp lý để xây dựng đất nước theo chiều hướng mới.

Hãy hướng về một Việt Nam ngày mai bằng một chương trình xây dựng đất nước song song trên hai lãnh vực quan trọng nhất của loài người, đó là nhân văn và xã hội, bằng quyết tâm:

XÂY DỰNG CON NGƯỜI

XÂY DỰNG XÃ HỘI

Hãy nâng cao công tác xây dựng con người lên hàng quốc sách. Hãy thành lập ngay một cơ quan nghiên cứu và chỉ đạo văn hóa như một hàn lâm viện với các khả năng đại học chuyên ngành với sự tham gia của những triết gia, học giả, giáo sư, nhà văn, nhân sĩ, tu sĩ… thiết tha với tổ quốc dân tộc, có khả năng, đạo đức, uy tín và nhất là chấp nhận đường lối chung trong công tác dựng nước này.

Thành viên của Hàn lâm viện phải được tổng thống tuyển chọn và quốc hội tấn phong. Họ có thể bị quốc hội biểu quyết yêu cầu từ tức hoặc bãi nhiệm với sự đồng thuận của tổng thống nếu họ phạm lỗi. Bình thường, họ sẽ làm việc liên tục cho đến ngày về hưu.

Nhiệm vụ của các Hàn lâm viện là nghiên cứu kế hoạch, chương trình giúp đở chính phủ dẫn dắt quốc gia xây dựng một xã hội nhân bản toàn diện qua mẫu người nhân chủ. Đào tạo cấp thời các cán bộ văn hóa để đáp ứng nhu cầu trên toàn quốc.

Để đạt được thành quả, lẽ dĩ nhiên chương trình hoạt động phải qua nhiều giai đoạn đào tạo, xây dựng. Phải đi từ dễ đến khó; từ thấp lên cao; từ đơn giản đến đa diện. Khoa học có thể đánh giá khả năng hoặc kiến thức của mỗi người, nhưng đạo đức, luân lý, tâm linh… vốn thuộc hệ thống tinh thần, trừu tượng, có tổ chức thi cử thì cũng chỉ cân đo được cái bên ngoài mà thôi. Còn nội tâm thì chỉ thể hiện lâu dài trong đời sống của mỗi người.

Cụ thể trong việc xây dựng người, hãy xử dụng ngay các loại trường tiểu, trung, đại học trên toàn quốc; các trường chuyên ngành, các lớp đào tạo nhân viên, cán bộ, công nhân; Các trường huấn luyện quân đội, cảnh sát, hàng hải, hàng không, kiểm lâm, quan thuế, y tế xã hội, điều dưỡng… để làm phương tiện truyền đạt, giáo dục, huấn luyện

Cao nhất là mở thêm các phân khoa đại học triết Việt nhằm cung ứng cho quốc gia các cử nhân triết, tiến sĩ triết… nhất định không bỏ sót một cơ hội nào cho việc truyền bá quốc đạo.

Kế hoạch phải khởi đầu từ cơ quan các ngành cao nhất của quốc gia từ trung ương ra dần các tỉnh, quận, làng, phường… Tất cả mọi nhân viên chính quyền đều phải tham gia học tập, nghiên cứu, thảo luận và thực thi đạo lý trước tiên trên chính bản thân, gia đình và công việc làm của mình.

Đối với đại chúng, cần xử dụng mọi phương tiện truyền thông như báo chí, truyền thanh, truyền hình, phim ảnh, bích chương, biểu ngữ, truyền đơn… chọn những câu ca dao, tục ngữ, chuyện cổ, thi ca thích hợp với đạo lý. Đặt các giải thi đua viết chuyện ngắn, chuyện dài, kịch bản, truyện phim, thơ, văn, ca nhạc, thể dục, thể thao… phổ biến rộng rãi từ thành thị tới thôn quê, từ duyên hải lên miền ngược… tạo thành một phong trào truyền thống đi sâu vào mọi sinh hoạt hàng ngày của đại chúng, dần dần trở thành thói quen, nền nếp, thâm nhập vào tiềm thức người dân.

Trong rừng nhân thoại (vẫn thường gọi là huyền thoại), truyện cổ, ca dao, tục ngữ hay trong thi ca… lẫn lộn bên những lời di huấn của tổ tiên, vẫn không thiếu những hủ tục mê tín, dị đoan hoăc những quan niệm dị biệt của văn hóa ngoại lai… Cần được tẩy rửa để vừa đem lại tính hoàn mỹ của quốc đạo vừa dễ dàng hòa nhịp với văn minh nhân loại ngày nay.

Hãy lập những hệ thống cấp bằng, tưởng lệ, sắc phong… cho cá nhân, tập thể, địa phương có thành tích tiến bộ trong việc giữ gìn và phát triển đạo lý. Những bằng, sắc phong, tưởng lệ này nên kèm theo một số tưởng thưởng vật chất và tinh thần do chính quyền hoặc tư nhân biếu tặng. Chẳng hạn được mời làm khách danh dự trong các dịp lễ, tiếp tân, thi đấu thể dục thể thao, hội Tết… tại địa phương hoặc thủ đô; Tặng vé du lịch, phụ cấp học bổng, thẻ giảm giá mua hàng, công nhân viên, quân nhân, công chức… được tăng lương, lên cấp, tù nhân được giảm án…

Trong lãnh vực công kỹ nghệ, thương mãi hay tuyển sinh tham dự huấn nghiệp các ngành hãy đề cao giá trị đạo đức và nhân tính làm nền tảng tuyển chọn thành viên cũng như làm nền tảng xét xử khi có tranh chấp hay sai phạm…

Hãy đề cao gia đình, hội đồng chi tôc, gia tộc và dành cho họ phần nào quyền giải quyết những vấn đề trong phạm vi gia đình, dòng tộc liên quan đến việc Hộ (Thuộc về tài sản, vườn đất, thuế má, sinh tử, giá thú, gia tộc, dòng tộc, quyền thừa kế…). Khi gia đình, gia tộc… không giải quyết được mới dùng đến công lý của tòa Quốc ước.

Tinh thần Nhân chủ nội trị của làng, xã cần phải được chính quyền cấp cao hơn tôn trọng; ngược lại, làng xã phải thi hành các chủ trương, đường lối của chính quyền cấp trên. Trường hợp có mâu thuẫn không giải quyết được, tòa Quốc ước các cấp sẽ ra quyết nghị xác minh ai đúng ai sai. Một khi nội vụ lên tới tòa Tối cao Quốc ước thì toàn quốc phải tuân hành mọi phán quyết của tòa này.

VI/4 .- QUAN NIỆM HỌC ĐƯỜNG MỚI

Gần cả trăm năm nay, nền Giáo dục Việt Nam chạy theo khuôn mẫu học đường Âu Mỹ với một số thay đổi tùy theo chủ trương của mỗi chế độ (Thực dân, Quốc gia Việt Nam, Việt Nam Cộng Hòa, Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam). Đã đẩy học sinh, sinh viên và xã hội chạy theo quan niệm Nhân bản Suy lý, và Duy Vật của Âu Mỹ. Do vậy các bộ môn quan trọng, liên hệ đến đời sống con người như Công dân Giáo dục, Sinh hoạt Thanh niên, Nghệ thuật và lan đến cả các môn Sử ký, Địa lý, Văn chương… bị xem thường một cách tệ hại. Đó là một điều cực kỳlầm lẫn. Học sinh, sinh viên Việt Nam không nhiều thì ít đã vong thân ngay khi bước chân tới cổng trường.

Bởi đó, trong lãnh vực văn hóa giáo dục, học đường là một đại bộ phận trong công việc xây dựng con người Nhân chủ. Để mạnh bước trên con đường xây dựng lại đất nước, xin hãy thay đổi quan niệm coi thường các môn học thuộc bộ môn Văn chương, nhất là đối với môn Công dân, Sinh hoạt thanh niên và Sử, Địa. Đề cao và cổ vũ các môn học này đồng thời lợi dụng các môn còn lại như Văn, Sinh ngữ, Nghệ thuật, Âm nhạc… để đưa chủ đề Nhân chủ cho học sinh, sinh viên nghiên cứu, thảo luận, làm bài, học bài…

Chúng tôi đề nghị dùng danh xưng Nhân chủ thay cho môn học Công dân và danh xưng Nhập thế thay cho môn học Sinh hoạt thanh niên. Giáo sư môn Nhân chủ sẽ giảng dạy phần lý thuyết còn môn Nhập thế sẽ thực hiện bài học vào đời sống thực tế. Như thế, hai môn học này sẽ cùng chung một chương trình, giáo án mà giáo viên hay giáo sư phải hỗ trợ, bổ túc cho nhau trong suốt cả niên học. Ở bộ môn Nhập thế, thầy giáo sử dụng ngay bối cảnh xã hội ở địa phương để dẫn dắt học sinh bằng những bài học phát triển cộng đồng, bảo vệ môi sinh, giúp ích xã hội, quan sát và suy luận, thích nghi hoàn cảnh…

Để học sinh tích cực tham gia môn học “Làm người” cực kỳ quan trọng này, nên dựa theo các sinh hoạt của tổ chức Hướng đạo Việt Nam, Hướng đạo Thế giới bằng những trò chơi giáo dục, cắm trại, lửa trại, thám du, trại bay… với những bài học “chuyên môn Hướng đạo” chẳng những giúp cho thanh thiếu niên dễ dàng thích ứng và đối phó trong mọi hoàn cảnh còn tạo nên những mẫu người Nhân chủ rất đáng mến từ khi còn nhỏ tuổi.

Hiện thực tư tưởng Nhân chủ trong Học đường sẽ đem lại những kết quả chắc chắn, hiệu quả sẽ xuất hiện sau vài năm. Chẳng những thế, nó ảnh hưởng dây chuyền đến mỗi gia đình, dòng tộc, làng xóm… một cách nhẹ nhàng nhưng rất thiết thực.

Môn học Nhân chủ có thể khởi sự từ lớp ba tiểu học và chấm dứt ở lớp 12 trung học. Nếu tính mỗi tuần lễ có 1 giờ học Nhân chủ và 2 giờ học Nhập thế thì từ lớp 3 đến lớp 12 sẽ có trên 1000 giờ học lý thuyết và thực hành cộng thêm 1000 giờ ôn học ở nhà. Đó là chưa kể ở các môn khác như Văn, Sử, Địa, Nghệ thuật, Âm nhạc… học sinh cũng có nhiều cơ hội thảo luận, nghiên cứu, làm bài… những vấn đề liên quan đến mẫu người Nhân chủ.

Thiết tưởng, hàng năm đất nước chúng ta sẽ có nhiều trăm ngàn công dân ra trường với hành trang hàng ba, bốn ngàn giờ tu luyện làm Người, chắc chắn khối nhân lực đông đảo này sẽ là những nhân tố cực kỳ hữu ích thúc đẩy xã hội, đất nước tiến tới con đường Nhân chủ, Nhân trị.

Nhiệm vụ Học đường còn cần quan tâm tới môt vấn đề quan trọng không kém, đó là công tác gột rửa, xóa bỏ một số thói quen trong đại chúng và hầu như trở thành cá tính của dân tộc từ sau hơn 1000 năm chịu đựng ách nô lệ Hoa tộc và 1000 năm độc lập dưới các nền quân chủ chuyên chế, thực dân Pháp đô hộ và Cộng sản toàn trị. Những cá tính đó chính người Việt cũng tự thấy với nhau. Sử gia Trần Trọng Kim trong Việt Nam Sử Lược đã viết : “Người Việt Nam có tính quỷ quyệt, hay nhạo báng, bài bác. Tâm địa nông nổi, liều lĩnh, thiếu kiên nhẫn. Hay khoe khoang, thích danh vọng, ham chơi bời cờ bạc. Hay tin ma quỷ, sùng sự lễ bái, kiêu ngạo và hay nói khoác…”

Chẳng những thế, với một dân tộc đất ít, người đông, quanh năm bão lụt, hạn hán phũ phàng; địa thế lại nằm trên một tọa độ nối liền các khu vực sầm uất: lục địa Trung Hoa ở phía Bắc, quần đảo Đông Á ở phía Đông, Lục địa Ấn Độ cùng với bán đảo Malaysia, Thái Lan, Miện Điện, Lào và Cambodia ở Tây Nam. Việt Nam trở thành một vùng đất trung tâm cho mọi dòm ngó, chiếm đoạt. Trong hoàn cảnh phải tranh thủ từng giờ, từng ngày để sống còn, người Việt không ít thì nhiều học theo những thủ đoạn “sống chết mặc bây, tiền thầy bỏ túi”. Khiến cho nhân phẩm con người mỗi ngày một lụn bại.

Dù sao, người Việt cũng đã được nhiều báo chí ngoại quốc chú ý ca ngợi như : Lòng can đảm, thông minh, tính hiếu khách rất cao, tính thương người, dễ mủi lòng trước niềm đau của kẻ khác, có hiếu với cha mẹ, ông bà…

Dù khen hay chê, công tác gột rửa những cá tính bất thiện hoặc thiếu lòng khiêm tốn, vị tha, bác ái… nói trên phải được hệ thống trường học lưu tâm uốn nắn ngay từ khi các cháu học sinh bước vào dưới cổng nhà trường. Hai môn học Nhân chủ và Nhập thế sẽ là những chất xúc tác quan trọng để chuyển hướng từ cái thiếu thiện lên cái hoàn thiện một cách cụ thể. Để rồi sau một thời gian, những cá tính tốt đẹp của người Việt cổ dần dần ăn sâu vào tâm thức người Việt ngày nay đồng thời phát triển vững mạnh và lâu dài trong sinh hoạt quốc dân.

Trong phạm vi tín ngưỡng tâm linh, tôn giáo là những thực thể vô giá trong công cuộc xây dựng con người trở nên lương thiện và duy trì sự ổn định vững chắc trong cộng đồng xã hội. Đồng thời là một sự cân bằng tuyệt diệu làm cho đời sống con người dễ dàng thích nghi trong nhiều hoàn cảnh phức tạp. Chẳng những Quốc ước chấp nhận và cổ vũ tự do tôn giáo mà còn tạo sự hỗ tương đằm thắm giữa các tôn giáo. Chính quyền cần thường xuyên quan tâm trợ giúp cũng như thăm dò ý kiến các tổ chức này trên nhiều lãnh vực từ xây dựng đến lãnh đạo đất nước.

Các ý kiến nêu trên chỉ là muôn một trong công tác xây dựng một xã hội Nhân bản Toàn diện bằng mẫu người Nhân chủ và chế độ Nhân trị. Đây là một cuộc cách mạng vĩ đại, một cuộc cách mạng văn hóa vô cùng thiết thực, chuyển đổi con người từ vị thế vong thân qua vị thế Nhân chủ.

Triết gia Lương Kim Định cho rằng: “Cuộc cách mạng văn hóa này, chẳng những riêng cho dân tộc Việt Nam mà còn là khởi điểm cho nhân loại ngày nay”.

Người xưa nói: “Trăm năm trồng người” có nghĩa là thực hiện một kế hoạch cải tổ văn hóa phải liên tục áp dụng trên nhiều thế hệ và phải mất hàng trăm năm mới có thể tạo thành thói quen, truyền thống trong xã hội. Tuy nhiên thời thế hiện nay đã khác ngày xưa rất nhiều, kế hoạch trồng người của chúng ta chỉ mất khoảng mười lăm, hai mươi năm thì có thể đã thấy kết quả.

Tại sao? Xin thưa ngày nay là thời đại mà tin tức chỉ cần vài phút, vài giờ là cả nước, cả thế giới đều biết. Ngày nay toàn dân đều đi học, nhân lực và phương tiện truyền bá vô hạn và hơn hết là dân trí và nếp sống người dân đã vượt lên rất cao so với thế kỷ trước. Đó là những điểm vô cùng thuận lợi để chúng ta áp dụng thuật trồng Người vậy.

Phải đưa kế hoạch Trồng Người ấy vào Quốc Ước để nó không bị làm mất sự liên tục vì nhiệm kỳ của cơ quan Hành Pháp thường chỉ có 4, 5 năm với những chủ trương đường lối riêng biệt của các vị Tổng Thống hoặc đảng phái của vị Tổng thống đương nhiệm ấy.

VI/5 .- TỔ CHỨC CÁC LỄ HỘI QUỐC GIA

Chúng tôi xin đề nghị thiết lập năm ngày lễ mang sắc thái văn hóa truyền thống mới trong sinh hoạt lễ hội của quốc gia:

- NGÀY NHÂN CHỦ: Nếu chọn cùng một ngày với lễ kỷ niệm đức Khổng Phu Tử thì hợp tình nhất.

- NGÀY DÂN CHỦ: Có thể tổ chức trước ngày tông tuyển cử các cơ chế quốc gia một vài ngày, nhân dịp này chính quyền vận động nhân dân tham gia đầu phiếu.

- NGÀY TỰ DO: Có thể tổ chức cùng một ngày với ngày Quốc tế Nhân quyền

- NGÀY BÌNH SẢN

- NGÀY QUỐC ƯỚC

Vào năm ngày truyền thống này, chính quyền và toàn dân tổ chức những sinh hoạt đặc thù truyền thống dân tộc như hội hè, ca múa, liên hoan, thi đấu thể dục, thể thao, tuyển chọn học sinh, sinh viên, học viên xuất sắc trên mỗi lãnh vực… phối hợp với những buổi học tập, hội thảo, thuyết trình… theo chủ đích của ngày hội. Vào dịp này, chính quyền các cấp trao tặng các cơ quan, đoàn thể, cá nhân xuất sắc… các cấp bằng, sắc phong, tưởng lệ và các phần thưởng có giá trị thiết thực để nâng cao tinh thần dân chúng.

Hãy yểm trợ tích cực cho các đoàn thể có chủ trương cổ súy đạo lý và truyền thống văn hóa dân tộc. Quan tâm đến việc thành lập các đoàn thanh niên nam, nữ nhằm phát triển Quốc đạo, Việt đạo… hoặc vận động các đoàn thể đã có quá trình hoạt động hữu hiệu như : Hướng đạo Việt Nam, Thanh niên Thiện chí, Gia đình Phật tử (Phật giáo), Thiếu nhi Thánh thể (Công giáo), Hướng đạo đoàn (Cao Đài), Thiếu niên Tin Lành, Vô vi Nam… nêu cao tinh thần xây dựng đất nước và phát triển Đạo lý Việt tộc.

Hãy thường xuyên mở ra các cuộc hội thảo để toàn dân có sự hiểu biết sâu rộng các hoạt động của quốc gia, các sinh hoạt của gia đình, dòng tộc, xóm phường, làng xã… Giúp mọi người ý thức vững vàng thế nào là Nhân chủ, Dân chủ, Tự do, Bình sản, Quốc ước và các cơ cấu quốc gia, nhất là các tòa Quốc ước trong xã hội Nhân trị.

Chuyện cổ, Ca dao, Phong dao, Tục ngữ, Hò, Vè… truyền thống làng xã, gia đình, dòng tộc, kinh điển, di vật cổ, nghi lễ, đạo đức, luân lý… nói chung là văn hóa truyền thống Việt mà chúng tôi đã đề cập trong sách này y hệt như mỏm nhô của những tảng băng trên mặt đại dương. Bảy phần tám của những tảng băng này chìm dưới mặt nước, chỉ có mỏm tảng băng nhô lên trên mặt nước mà thôi. Bảy phần tám nằm dưới mặt nước ấy đúng là nền tảng, là căn bản, là cái “đế” vô cùng quan trọng mà chúng ta không thấy được, nhưng chúng ta biết chắc rằng cái “đế” ấy đang nằm đó.

VI/6 .- TỔNG LUẬN

Kể từ khi Việt Nam thoát khỏi ách nô lệ Trung Hoa, dân tộc ta hầu như chưa bao giờ lấy lại được phong độ của một nước Nhân chủ, Nhân trị. Ảnh hưởng của văn hóa du mục Hoa tộc với chế độ quân chủ chuyên chế đã như một sợi xích kiên cố kéo dân tộc ta đi theo con đường đầy hiểm trở và bất trắc. Để rồi tổ quốc chúng ta, dân tộc chúng ta cứ phải trồi lên hụp xuống theo những chu kỳ thịnh suy của mỗi dòng họ vua chúa. Nếu không thì cũng nồi da xáo thịt, ngoại bang xâm lấn.

Nhiều học giả cho rằng, đấy là quy luật, là bánh xe lịch sử… Chúng tôi không nghĩ như thế, và cho dù là quy luật, là bánh xe lịch sử thì đó cũng chỉ áp dụng cho những giai đoạn đất nước đặt dưới quyền cai trị của chế độ quân chủ chuyên chế. Ở những nước có dân chủ có tự do, thực sự đã chứng minh được điều đó: Đất nước họ không còn bị cái hỗn loạn của “những ông vua cuối cùng của dòng họ trở nên hư đốn, sa đọa… gây tai họa cho đất nước” vốn là đặc tính của nền quân chủ chuyên chế trước đây. Tuy nhiên, đất nước họ lại gặp cái hỗn loạn khác, phản ảnh của xã hội Nhân bản một chiều suy lý như đã trình bày.

Lại kể từ khi cất bước lưu vong trên đất khách, nhìn thấy đất nước người giàu mạnh nhưng dân chúng thì luôn luôn bất mãn, tinh thần sa sút, luân thường đạo lý suy đồi. Đời sống người dân nhiều âu lo, gia đình bất trắc, xã hội lọc lừa, mạnh được yếu thua… Vậy thì họ thiếu cái gì ngoài cái giàu mạnh sung mãn đó?

- Rõ ràng dân tộc Việt Nam có một triết lý siêu Việt mà nhân loại ngày nay đang thiếu.

- Rõ ràng dân tộc chúng ta may mắn được tổ tiên để lại một di sản vô cùng quý báu mà chúng ta coi thường, bỏ xó suốt nhiều ngàn năm!

- Rõ ràng cả thế giới đang hướng về Đông Á, đang chúi mũi vào tủ sách Khổng Nho, vào những di vật cổ đại như trống đồng, khạp đồng, vào truyện cổ, huyền thoại, ca dao tục ngữ, vào truyền thống xã hội làng xã… tìm tòi gạn lọc một cách khó khăn nhưng đầy tin tưởng và thống khoái.

- Rõ ràng người Trung Hoa cổ đã dại dột đem trộn lộn truyền thống du mục của họ với nền văn hóa tuyệt diệu của tổ tiên Việt tộc khiến xã hội Trung Hoa suốt nhiều ngàn năm cứ vật vờ trong cái vòng lẩn quẩn “bạo chúa kế tiếp anh quân, minh vương nhường ngôi ác đế” làm cho nền tảng Nhân trị của Việt tộc không phát huy được chân giá trị của nó.

- Rõ ràng việc xây dựng một xã hội Nhân chủ, Nhân trị, Dân chủ, Tự do và Bình sản là một việc làm cấp thiết không thể thiếu được trong chính sách của bất cứ chính quyền nào hiện nay hay sắp tới của quốc gia Việt Nam.

Thưa quý độc giả,

Ngày nay, cho dù đứng ở vị trí nào, người có tư tưởng Quốc gia hay theo chủ nghĩa Cộng sản đều không khỏi thấy lòng nặng chĩu cay đắng, tủi nhục, đau thương cho quê hương Việt Nam. Bởi vì cảnh người bóc lột người, dối trá, lường gạt, tham nhũng, phạm pháp… đã xem ra như một chuyện thường tình của người dân trong xã hội Việt Nam ngày nay.

Toàn bộ tập sách Đường Ta Đi quý độc giả vừa đọc là những ý kiến được quy góp từ nhiều tài liệu quý giá của nhiều triết gia, học giả hằng quan tâm đến vận mệnh của đất nước. Người viết chỉ làm công việc sưu khảo, suy luận, liên kết và hệ thống hóa tạo thành một tổng luận, một hướng đi mà người viết tin chắc rằng sẽ đưa Việt Nam thoát khỏi giai đoạn tang thương chồng chất hiện nay.

Đức Khổng Phu Tử trước khi nhắm mắt lìa trần, đã nói một câu cuối cùng với học trò của ngài:

“Xuất kỳ ngôn thiện, tắc thiên lý ứng chi”.
Nói ra một điều lành, thì trời cũng ứng theo.

Tôi thấy đây là một chuyện ích quốc, lợi dân đáng làm, phải làm thì đem hết tâm lực xông pha vào việc công ích mà không ngại cam khổ.

Tôi chân thành gửi đến quý độc giả suy tư tôi viết trong cuốn sách này bằng một niềm tin bất diệt rằng:

Con đường duy nhất dẫn đưa dân tộc Việt Nam tiến lên thanh bình, hạnh phúc và thịnh vượng lâu dài nhất định phải kết hợp giữa văn minh Tây phương cùng với những đường lối mà Tổ tiên chúng ta đã thực hiện thời trước. Những kinh nghiệm sống ấy không phải thành hình sau một vài trăm năm mà phải trải qua hàng năm bẩy ngàn năm miệt mài tìm kiếm mới có được. Cả một kho tàng tư tưởng thân yêu, hợp tình hợp lý ấy, chúng ta đành đoạn dứt bỏ để chạy theo cái văn hóa đang là niềm đau của xã hội loài người hiện nay sao?

Xin hãy cùng nhau hướng về tổ quốc yêu thương, đem chân tình mà đãi thiên hạ, thì dẫu về sau có gặp được tổ tiên, có nhìn ra nhau là con cháu Lạc Hồng thì lòng cũng mãn nguyện rằng ta đã đi đúng đường vậy.

Mong lắm thay!

USA, ngày 01 tháng 7 năm 2003

An Phong Nguyễn Văn Diễn

SÁCH THAM KHẢO :

  • Việt Nam Sử Lược, Trần Trọng Kim
  • Kho Tàng Truyện Cổ Tích Việt Nam, Nguyễn Đổng Chi
  • Nhân Chủ, Lương Kim Định
  • Việt Sử Tân Biên, Phạm Văn Sơn
  • Lĩnh Nam Chích Quái, Trần Thế Pháp
  • Sứ Điệp Trống Đồng, Lương Kim Định
  • Sử Ký của Tư Mã Thiên, Giản Chi Nguyễn Hiến Lê dịch
  • The Kindom Within, Paulst Press
  • Việt Sử Toàn Thư, Phạm Văn Sơn
  • Puzzle Begins To Fit Together, tiến sĩ Wilhelm G. Solheim II
  • Myths to Live , Joseph Campbell
  • Jung and Chistianity, Wallace Cliff
  • Thánh Kinh Trọn bộ Cựu Ước và Tân Ước Thiên Chúa giáo
  • Holy Bible New Living Translation
  • Nhân Chủ, Lương Kim Định
  • Trung Quốc Sử Cương, nhà Xuất bản Đại Nam
  • Từ Điển Biểu Tượng Văn Hóa Thế Giới, Jean Chevalier và Alain Gheerbrant, bản dịch: Phạm Đình Cư, Nguyễn Xuân Giao, Lưu Huy Khánh, Nguyễn Văn Vĩ…
  • Việt Nam Đệ Ngũ Thiên Niên Kỷ, Một nhóm Thức giả, chủ biên: Vương Kỳ Sơn
  • Từ Điển Triết Học, Cung Kim Tiến
  • Sứ Mệnh Triết Đông, Thụy Sơn Trần Quốc Đoàn
  • Bách khoa Đại Từ Điễn Funk &Wagnalls
  • Encyclopedia, Leon L.Bram và Norma H. Dickey
  • Việt Nam Tự Điển, Lê Văn Đức, Lê Ngọc Trụ…
  • Gốc Rễ Triết Việt, Lương Kim Định
  • Cửa Vào Phong Tục Việt Nam, Phạm Việt Tuyền
  • Kinh Hùng Khải Triết, Lương Kim Định
  • Văn Học Tự Điển, Thanh Tùng
  • The Origins Of Chinese Civilization, David N.Keightley
  • Tạp chí Tỉnh Thức số 10-12 năm 2002
  • Tinh Hoa Sử Việt, Đinh Khang Hoạt
  • Nguồn Gốc Mã Lai Của Dân Tộc Việt Nam, Bình Nguyên Lộc
  • Nếp cũ : Hội Hè Đình Đám, Toan Ánh
  • Hồn Nước Với Lễ Gia Tiên, Triết lý An Vi, Kim Định
  • Phong Thái An Vi, Lương Kim Định
  • Tục Ngữ Phong Dao, Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc
  • Đất Lề Quê Thói (Phong Tục Việt Nam) Nhất Thanh Vũ Văn Khiếu
  • Văn Học Bình Dân, Nguyễn Trúc Phượng
  • Nguồn Gốc Văn Hóa Việt Nam, Lương Kim Định
  • Làng Xưa Phố Cũ, Hoài Việt – Từ Nguyên – Trọng Khôi
  • The Art Of Indochina, Bernard P.Groslier
  • Thành Ngữ Điễn Tích Danh Nhân Tự Điễn, Trịnh Văn Thanh
  • Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt, Nguyễn Xuân Quang
  • Lịch Sử Thế Giới, Nguyễn Hiến Lê
  • Văn Lang Vũ Bộ (Triết lý An Vi), Kim Định
  • Thần Thoại Việt Nam, Nguyễn Tữ Năng
  • Lịch Sử Việt Nam, Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn, Lương Ninh

VÀI NÉT VỀ TÁC GIẢ

Bút hiệu liền với tên họ: An Phong Nguyễn Văn Diễn

Ngày và nơi sinh: 1936 Cổ Thành, Quảng Trị

Hoạt động xã hội :

1957 – 75 Thành viên hoạt động Hội Hướng Đạo Việt Nam, Trưởng đơn vị cấp tỉnh , Huấn luyện viên Trại trường cấp tỉnh và toàn quốc.
1960 – 68 Tốt nghiệp khóa Quản đốc Đồn điền CHPI (Compagnie des Hauts Plateaux Indochinois) tại Banmêthuột; Quản đốc các đồn điền Ea Hné, Ea Tull và Mộng Điệp … Ban Mê Thuột
1964 – 78 Gs. sử địa các trường trung học tại Ban Mê Thuột và Sàigòn.
1969 – 75 Sáng lập viên Hội Hướng đạo Quân đội trực thuộc TC.CTCT. QL.VNCH, Ủy viên Kế hoạch kiêm UV. Ngành Thiếu và Ngành Kha Hội đồng Trung ương, Khóa trưởng Trại trường huynh trưởng ngành Thiếu và Kha Hướng Đạo Quân Đội.
1970 –75 Thường viết trên báo Tiền Tuyến, Cục Tâm Lý Chiến QLVNCH, mục Thanh niên, Hướng Đạo …
1982 – 83 Vượt biển, tạm cư tại trại tỵ nạn Galang, Indonesia. Viết cho Nguyệt san Tự Do của Linh mục Dominici.
1983 – Đến Mỹ, cư ngụ tại Houston, TX.
1984 – 90 Huấn luyện viên Trại trường ngành Thiếu và Kha Hướng Đạo Hoakỳ (Boys Scout Of America) gốc Việt Nam.
1986 – … Hội viên An Việt, nghiên cứu và phổ biến triết lý An Vi của cố triết gia Kim Định
1985 – 89 Tổng thư ký Tòa soạn Houston Thời Báo
1991 – … Hội viên Văn bút Việt Nam Hải Ngoại, Trung tâm Nam Hoa Kỳ, đã từng giữ nhiệm vụ uv. Văn hóa, uv. Tổng thư ký, phó Chủ tịch…

Tác phẩm đã xuất bản:

Truyện dài dã sử : Thần Long Bách Việt, 1987

Khảo luận văn chính sử : Đường Ta Đi, 2003

Tác phẩm đã đăng trên các báo, tuyển tập… :

Truyện dài dã sử: Nước Non Tiền Sử

Biên khảo lịch sử : Việt Nam, 150 năm, những bước đi mệt mõi

Sử Biên niên : Việt Nam trong dòng lịch sử thế giới

Hồi ký: Hướng Đạo Việt Nam, 20 ngày hấp hối

Cùng nhiều tiểu luận bàn về văn hóa, lịch sử, kịch dã sử và truyện ngắn…

ĐƯỜNG TA ĐI: Chương V

Chương V

Chân thiện mỹ trong chuyện
ÔNG BÀN CỔ

V/1.- NGUỒN GỐC

Tên “Ông Bàn Cổ” còn gọi là Ông Bàn Hồ hay Ông Bàn Vũ hay Ông Bành Tổ… xưa nay ai cũng nói là người Tầu, riết rồi thành nếp, hễ ai nói khác là sai. Sự thực đây là một truyện là của dân tộc Dao* ở Quảng Tây đã được một viên quan Tầu tại quận Uất Lâm tên Từ Chỉnh đời Tam quốc sao chép (quá trể) vào sách Tam Ngũ Lược Chí năm 225 sau CN. Chúng ta đã biết, từ thời nhà Hán trở về trước, đất Quảng Đông và Quảng Tây tức là Lưỡng Quảng cũng gọi là Lưỡng Việt. Đất Quảng Tây có hai quận Uất Lâm và Thương Ngô vốn là hai quận trong tổng số chín quận nước ta thời nhà Triệu (179-111 tr.CN) trở về trước.

Năm 111 tr. CN nước ta bị nhà Hán (Hán Vũ Vương) xâm lược và đô hộ. Thời đó, đa số các tộc họ người Dao cư trú ở quận Uất Lâm. Người Dao thuộc chủng Bách Việt cũng như các tộc họ khác Mường, Mán, Thái, Lô Lô… mà người Trung Hoa cổ gọi chung là Man di, Nam man.

* Người Dao là một dân tộc khá đông dân, ngày nay họ sống rải rác từ các tỉnh phía Nam nước Tầu, suốt dọc biên giới Hoa Việt, vùng thượng du Bắc Việt xuống tới các tỉnh phía Bắc của miền Trung Việt Nam. Đời sống và tổ chức xã hội của họ gần giống người Mường. Những năm 1961- 63, khi còn làm phụ tá quản đốc các đồn điền chính phủ ở Banmêthuột, Darlac, người viết có nhận một số người Dao, Mường, Mán… di cư từ Thanh Hóa, Nghệ An vào làm việc cho đồn điền. Họ nói tiếng Việt với nhiều thổ ngữ rất khó nghe.

Sách Lịch sử Việt Nam của nhóm sử gia Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn, Lương Ninh ghi: “Giang Nam, vùng đất ở phía Nam sông Trường Giang, ngoài hai tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây còn có vài tỉnh khác nữa, đến cuối Hậu Hán, cư dân Thái, Dao, Mèo, Tạng, Miến… vẫn chiếm đa số phần lãnh thổ. Lúc đầu cư dân Trung Hoa tập trung ở đồng bằng hạ lưu Dương Tử… Dần dần Hoa tộc đẩy các cư dân này bị dồn lên miền núi và gọi là “Sơn Việt”. Các cư dân Sơn Việt này dần dần đồng hóa thành Trung Hoa…”

Chính người Trung Hoa cổ khi chọn chuyện này làm thời điểm khai thiên lập địa và khởi nguyên của con người, cũng đã chủ tâm đặt trước nhiều chuyện cổ khác… cho đến khi vua Hoàng Đế (Hiên Viên) lập quốc là năm 2.704/TCN.

Chẳng riêng gì chuyện BÀN CỔ, những chuyện khác như NỮ OA, PHỤC HI… đều phản ảnh tư tưởng nông nghiệp xuất phát từ các dân tộc ở miền Nam Trường Giang đã cho chúng ta một giải đáp khá rõ ràng về nguồn gốc của chúng. Toàn bản văn cổ chuyện Ông BÀN CỔ được viết thành từng câu 4 chữ như sau:

Hỗn mang chi sơ
Vị phân Thiên Địa
Bàn cổ thủ xuất
Thủy phân âm dương
Thiên khai ư Tý
Địa tịch ư Sửu
Nhân sinh ư Dần

…..

Bản dịch :

Thái hoang ban sơ
Trời đất chưa phân
Bàn Cổ ra tay
Trước phân âm dương
Khai Trời giờ Chuột
Dựng Đất giờ Trâu
Sinh Nguời giờ Cọp* …

* Tý, sửu, dần là 3 con thú đầu trong số 12 con thú biểu tượng của 12 năm để tính thời gian của văn hóa Bách Việt từ thời đại Phục Hy.

Sách kể rằng mỗi ngày ông Bàn Cổ biến đổi chín lần, mỗi lần cao thêm 10 thước. Khi ông lớn lên bao nhiêu thì đất dầy thêm bấy nhiêu, trời cao thêm bấy nhiêu. Ông Bàn Cổ sống tới 18.000 năm nên đất cực dầy, trời cực cao, còn thân hình ông thì cực kỳ to lớn. Khi ông khóc, nước mắt chảy ra làm thành những dòng sông lớn. Hơi thở của ông là gió và khi ông liếc mắt nhìn đây đó thì tạo ra chớp nháy trên trời. Lúc ông vui vẻ, khỏe mạnh, hạnh phúc thì trời đất êm đềm, khí hậu tốt đẹp. Lúc ông buồn rầu, đau ốm thì mây mù phủ kín, trời đất ảm đạm, lạnh giá; lúc ông giận dữ, thì mưa gió, bão bùng, sấm sét, lụt lội tràn ngập khắp nơi. Đầu đội trời, chân đạp đất, ông sống an nhiên tự tại và xử dụng thiên nhiên để làm cho đời sống của ông mỗi ngày một thêm tốt đẹp.

Khi ông chết, xác ông rã ra từng mảnh làm thành những vùng đất núi lớn trong Thiên hạ. Máu, mỡ chảy ra thành biển cả, hồ, ao. Hai con mắt ông trở thành mặt trăng và mặt trời. Lông, tóc đâm rễ xuống đất mọc thành cây cối. Những loài sâu bọ sống trên thân xác ông trở thành loài người.

V/2 .- TƯ TƯỞNG ẨN DẤU TRONG CHUYỆN ÔNG BÀN CỔ

Câu chuyện thoạt nghe có vẻ hoang đường, phóng đại đến độ hài hước, tức cười. Tuy nhiên nếu chịu khó suy nghĩ một chút, chúng ta sẽ thấy rằng, tổ tiên người Dao chắc chắn không truyền tụng một câu chuyện hài hước cho vui. Người Trung Hoa cổ cũng không ngu dại gì khi vay mượn một chuyện tiếu lâm của dân “man di” nô lệ để tôn lên thành ông tổ của họ!

Chúng tôi nghĩ, khi ông quan thuộc địa quận Uất Lâm (một quận của Giao châu Đô hộ phủ) tên là Từ Chỉnh viết sách Tam Ngũ Lược Chí (Sơ lược 35 truyện có ý nghĩa) vào năm 225 là lúc bên Tàu chia làm ba nước (Tam quốc) Bắc Ngụy, Tây Thục và Đông Ngô. Đông Ngô chính là nước đang đô hộ nước ta, đã rất quan tâm đến chuyện ông Bàn Cổ :

Giá trị tư tưởng cùng với mẫu người kỳ vĩ của chuyện ông Bàn Cổ đã làm cho nhà Đông Ngô sững sốt, lo âu khi biết thêm rằng, dòng giống “Nam man” Bách Việt có những suy tư thâm trầm về con người trước vũ trụ. Chủ trương chiếm đoạt và bôi xóa dấu vết tư tưởng văn hóa các dân tộc Bách Việt đồng thời tạo điều kiện dễ dàng cho chủ trương đồng hóa đã khiến cho họ dành ngay làm của riêng. Chẳng những thế, để thỏa mãn tính tự cao tự đại của nước lớn, họ phong ngay ông Bàn Cổ lên làm tổ tiên dòng Hoa tộc mà quên rằng tổ tiên Hoa tộc khi chưa vào Đông Á vốn là Rợ du mục từ Tân Cương, Thanh Hải thì làm gì có những suy tư của cư dân nông nghiệp?

Lời ghi chú vô tư, rất đáng khen của ông quan đô hộ Từ Chỉnh đã vô tình làm lộ bộ mặt của những kẻ ăn vụng mà không biết chùi mép!!

Từ việc học lóm câu chuyện ông Bàn Cổ đi tới quyết định tôn ông Bàn Cổ làm ông tổ người Trung Hoa của triều đình Đông Ngô, quý độc giả có thấy buồn cười, khi ta nói: “Ông tổ của người Trung Hoa ngày nay là man di Dao, dòng Bách Việt ở Quảng Tây!!!”

Giáo sư, triết gia Lương Kim Định trong sách Nhân chủ, cho rằng, chuyện ông Bàn Cổ là khởi điểm của triết học Đông Á mà đỉnh cao là mẫu người quân tử cũng đã xuất phát từ chuyện này.

Có người đặt nghi vấn, con người làm sao lại có thể góp phần vào việc kiến tạo vũ trụ, thiên nhiên như chuyện ông Bàn Cổ, để xưng là nhân chủ? Vô lý và khoa ngôn chăng?

Thưa, trước hết chúng ta không lấy con mắt khoa học kỹ thuật để nhìn về chuyện ông Bàn Cổ mà hãy nhìn đấy là một ẩn dụ mang tính chất triết học thì câu chuyện sẽ trở nên sáng sủa và đơn giản đến độ một trẻ nhỏ cũng cảm nhận dễ dàng. Khởi thủy ông Bàn Cổ không kiến tạo vũ trụ từ không đến có, vì trước ông Bàn Cổ đã có trời, đất… hoang sơ, mà theo nghĩa con người nắm phần xếp đặt, cải sửa và xử dụng thiên nhiên theo ý mình. Chúng ta có thể nói, nhờ có Người mà thiên nhiên, vũ trụ được biết tới, được đặt tên và được xử dụng. Nếu không có người, vũ trụ chỉ là khối vật chất vô danh, có cũng như không.

Trang Tử diễn đạt ý trên bằng câu:

Thiên địa dữ ngã tịnh sinh”

(Trời, Đất cùng với Ta sinh ra).

Khi chưa có Người tức là chưa có nhận xét thì tất cả là thái hoang. Đâu có tên Hồng Hà, Hương Giang, Cửu long… Đâu có tên Kim Tinh, Thủy Tinh, Hỏa Tinh… Chỉ sau khi con Người sinh ra, thiên nhiên, vũ trụ mới được biết tới, mới được “kiến tạo tên tuổi” dần dần cùng với sự hiểu biết và bàn tay của Người mà thôi.

Để sự diễn đạt được cụ thể hơn, xin đưa một tỉ dụ: Anh Y lúc chưa sinh ra thì vũ trụ chưa có đối với riêng anh. Khi anh Y mới sinh thì vũ trụ của anh thật là nhỏ: chiếc vú của mẹ, vòng tay của cha, là tiếng ru ạ ời, là sáng, là tối… Lớn lên một tí, vũ trụ của anh Y là khuôn mặt của các anh, các chị, là ngôi nhà thân yêu, là tiếng nói của mỗi người thân trong gia đình… Cứ thế, anh Y lớn lên bao nhiêu anh, vũ trụ quanh anh càng lớn lên, rộng ra, dày đặc bấy nhiêu… Anh là thầy giáo thì vũ trụ của anh trong phạm trù thầy giáo với học sinh, trường học, tài liệu, bài vở, đồng nghiệp, kỷ luật, tác phong thầy giáo… anh là nông dân thì vũ trụ của anh trong phạm trù nhà nông với đất đai, mùa màng, mưa nắng, thủy triều, con trâu, cái cày, hạt giống… cao hơn nữa, anh nhà thiên văn thì vũ trụ của anh trong phạm trù mặt trăng, mặt trời, các tinh tú với biết bao hệ lụy phức tạp của nó…

Anh Y xử dụng và cải sửa vũ trụ cho thích hợp với cuộc sống và việc làm của anh và của xã hội. Anh sống an nhiên tự tại trong khung cảnh an hoà với ý niệm anh là một người chủ (nhân chủ) có trách nhiệm đối với thiên nhiên và xã hội từ dĩ vãng, hiện tại cũng như trong tương lai.

Khi nhắm mắt lìa trần anh Y để lại cho con cháu biết bao tài sản vô giá: Vật chất là những tài nguyên anh đã cải sửa, xây dựng lên. Lý trí là tư tưởng, là kinh nghiệm thành bại trên đường đời. Tinh thần là nếp sống đạo đức, luân lý anh đã sống, đã khuyên dạy con cháu, đã dẫn dắt những người chung quanh. Tâm linh của anh, hiên ngang như mặt trời, dịu dàng như mặt trăng, soi sáng cho đời sau. Con cháu, hậu thế cứ theo đó mà dựng xây, sáng tạo… tiếp nối cuộc sống.

Bằng vào nền tảng đó, quan niẹm nhân sinh Bách Việt mang tầm vóc một minh triết diệu kỳ, sinh động, soi sáng toàn bộ đời sống con người từ lúc chào đời cho đến ngày nhắm mắt xuôi tay.

Từ chuyện ông Bàn Cổ chúng ta thấy được quan niệm nhân sinh của người Bách Việt cổ đã thoát khỏi cái mặc cảm tự ti, hèn kém của kiếp người trước thiên nhiên vũ trụ. Con người Bách Việt đầu đôi trời, chân đạp đất, sống an nhiên tự tại trong ý thức làm chủ. Lấy nhân, nghĩa, lễ, trí, tín để làm phương châm hành xử chẳng riêng gì với tha nhân mà cả với chính mình.

V/3 .- NHÌN SƠ VỀ TÂY PHƯƠNG CỔ ĐẠI

Quay nhìn về thế giới Tây phương cổ đại để xem họ suy tư như thế nào: Khởi đầu họ quan niệm con người là nô lệ của thần minh đến độ lấy cả mạng sống con người để tế lễ thần minh. Về sau họ lại chối bỏ thần minh mà đề cao nhân bản. Khi triết gia Socrates (470-399 Tr.CN) và những người đồng thời nối tiếp công việc của ông như Platon, Antisthène, Diogènes, Aristote… của Hi Lạp cổ đại, định nghĩa: “Người là con vật biết suy lý” (animal raisonable), là các ông đã đặt con người vào phạm trù sự vật. Do đó, trong gần 25 thế kỷ, tư tưởng nhân bản suy lý của Aristote được xem là một hảo ý nhằm giải phóng con người ra khỏi thần minh hầu trả lại độc lập cho con người.

Thế kỷ 17, 18 khi Âu châu thoát khỏi ảnh hưởng giáo hội Công giáo, các bậc thầy Voltaire, Descartes, Galilée, Leibnitz, Képler, Pascal, Newton… phục hưng nền nhân bản suy lý tạo thành ý thức mới trong việc xây đắp nền móng khoa học thực dụng hiện đại. Địa cầu nhờ đó phát triển rất nhanh trên nhiều lãnh vực khoa học, đáp ứng được phần nào nhu cầu vật chất của con người. Xã hội dần dần chạy theo nguyên tắc suy lý và nhà nước pháp trị. Quán tính đã đẩy nó đi rất xa, từ suy lý* tới duy lý** rồi duy vật*** hiện sinh**** vô tình đưa con người ra khỏi khả năng kiểm soát giá trị thực tế của nó.

* Suy lý: Sự suy diễn theo căn bản lý luận, dựa vào lý lẽ phải, trái mà kết luận. Tỉ dụ: Mẹ thương con là do tình cảm chứ không do suy lý. Chủ tiệm buôn tặng quà cho khách hành là do suy lý chứ không do tình cảm. Thầy dạy học trò vừa do tình cảm vừa do suy lý…

** Duy lý: Chỉ có lý tính, luận thuyết cho rằng con người vốn sẵn có lý tính tự nhiên mà nhận thức tất cả sự việc trên đời, những kinh nghiệm, tín ngưỡng, huyền niệm… đều không đáng kể…

*** Duy vật: Con đẻ của Duy lý, cháu nội của Suy lý. Duy vật thiên về vật chất hoàn toàn, tinh thần chỉ là phụ thuộc hoặc không đáng kể. Từ duy vật mà phát sinh ra Duy vật Biện chứng pháp, Duy vật sử quan, Duy vật chủ nghĩa, Cộng sản chủ nghĩa, Xã hội chủ nghĩa…

**** Hiện sinh: một quan niệm sống chối bỏ tất cả mọi ràng buộc của xã hội, luân lý, văn hóa, truyền thống, tín ngưỡng, luật pháp… Họ cho những điều đó là rác rến, làm cản trở tự do của con người (xin đọc thêm cuối Chương IV).

Triết gia Lương Kim Đinh viết: “Thế giới thế kỷ 20 là một cơn sốt duy lý, duy vật và hiện sinh vô cùng nghiệt ngã, tạo nên biết bao thảm cảnh trên địa cầu. Đó là hậu quả của sự dẹp bỏ nền tảng đạo đức do tôn giáo xây dựng gần 2.000 năm để thay thế và phát triển tư tưởng nhân bản duy lý chưa được hoàn chỉnh”

Chúng ta dễ dàng nhận thấy nhân sinh và vũ trụ quan của người Tây Phương thời cổ là vong thân. Con người được sinh ra từ những loại thần cực kỳ hung dữ. Thân phận con người là những kẻ nô lệ thần minh, nếu lầm lỗi có thể bị thần minh tiêu diệt không thương xót.

Ta thử đặt vài chữ Nếu để thấy vị trí chuyện Ông Bàn Cổ không thể hình dung được:

Nếu chàng Prométhée tuổi trẻ (thần thoại Hy Lạp) trong dịp lên núi Olympie trong chuyến đi chơi đã ăn cắp lửa trời đem về soi sáng cho trần gian khỏi tăm tối để rồi bị Trời (thần Zeus) trừng phạt, trả thù cực kỳ tàn nhẫn!

Nếu Abraham, tổ phụ người Do Thái phải đem con trai độc nhất sát tế thần Ya-Vê (Yéhova) để chứng tỏ lòng tuân phục tuyệt đối của mình!

Nếu mỗi năm người Babilon phải giết hàng trăm thiếu niên nam nữ đồng trinh để tế thần Mo-Áp!

Nếu người Ấn Độ vì sợ dơ bẩn lời cầu kinh Bàlamôn mà phạt tội người Padi* phải bị đổ chì vào lỗ tai (một cách giết người cực kỳ tàn khốc)!

Nếu vua chúa Trung Hoa cổ giết hàng trăm sinh mạng con người để tế thần xã tắc trước khi ra trận hay tế thái miếu để tạ ơn “thần” tổ tiên dòng họ sau một cuộc chiến thắng!…

Thì ông Bàn Cổ, chỉ một cái liếc mắt là phát sinh ra sấm chớp, chỉ một hơi thở là gió nổi lên, bỏ ra chút mồ hôi, nước mắt là đầy ắp công ích như nước các dòng sông lớn, nhỏ…! Ông đặt tên cho các giải thiên hà, các chòm sao, Thái dương hệ, cho sông núi… Chẳng những thế, ông sửa đổi thiên nhiên, vũ trụ để xây dựng cuộc sống…

Thì chuyện ông Bàn Cổ khiến cho chúng ta thật sự kinh hoàng trước cái giá trị tuyệt vời của con người Việt cổ đối với vũ trụ. Đó là vị thế nhân bản hoàn mỹ hợp tình hợp lý ở chỗ con người đã nhận diện được mình là chủ của chính mình đồng thời là chủ của cái thiên nhiên bao la hùng vĩ chung quanh.

*Padi, tiếng gọi miệt thị dành cho thổ dân Dravidien, “kẻ vô loại”, tiện dân… có nghĩa là không được phân loại trong 4 giai cấp của xã hội Ấn Độ.

V/4 .- TỪ CHUYỆN ÔNG BÀN CỔ ĐẾN HUYỀN SỬ DÂN TỘC.

Tiếp nối chuyện ông Bàn Cổ là huyền sử Nữ Oa và Phục Hy (4480 Tr.CN)*. Hình khắc trên thạp đồng cho thấy đuôi hai vị cuốn vào nhau biểu hiện sự gắn bó keo sơn của quan niệm âm dương. Nữ Oa cầm linh vật, dụng cụ vẽ hình tròn, biểu hiệu trời, thuộc về tâm linh. Phục Hy cầm tứ vật, dụng cụ vẽ hình vuông, biểu hiệu dất, thuộc về lý trí, đã xác nhận nền tảng Nhất nguyên Lưỡng cực của triết học Đông Á.

Thời đại Hữu Sào*, người Bách Việt rời hang động, bước xuống đồng bằng, dựng nhà mà ở. Cái nhà mái cong (mái nhà cong biểu tượng trời, nền nhà hình vuông biểu trượng đất, con người sinh sống và giao cảm với trời đất trong căn nhà đó). Người ta gọi đấy là Tam thông: Trời, Đất, Người thông nhau qua hình ảnh trời che đất dưỡng đầy sinh động và mật thiết .

Thời Toại Nhân* thì minh triết thành hình và xã hội Bách Việt đã đáp ứng được nhu yếu thâm sâu của con người. Đó là chế độ nhân chủ, nhân trị. Tuy nhiên đó chỉ mới bước một: Con người nhận chân giá trị đích thực của mình và xử dụng thiên nhiên cho đời sống của mình.

Thời Thần Nông (3118 Tr.CN)* còn gọi là Viêm Đế, vị vua sáng chế ra cái cày và thuần hóa trâu bò để kéo cày làm ruộng. Nếm rễ cây để làm thuốc và lập chợ để người dân trao đổi của dư của thiếu. Xã hội Miêu tộc thời Thần Nông chứng tỏ đã đạt được sự dư ăn, dư mặc và khi bệnh hoạn đã có thuốc thang.

Các thời đại nói trên đều nằm trong giai đoạn Văn hóa Bắc Sơn (7000 đến 1000 năm tr. CN)

* Sách “Trung Quốc Sử Cương” chép : “Người Trung Hoa sau khi tràn xuống lưu vực sông Hoàng Hà, đánh đuổi người Miêu tộc đi, rồi mỗi họ chiếm lấy một khu vực, có người tộc trưởng cai quản gọi là hậu. Các hậu chọn một hậu mạnh nhất tôn làm thủ lĩnh. Tương truyền rằng khi mới khai thiên lập địa chỉ có người là Bàn Cổ. Sau có những thủ lĩnh mà công trình khai hóa còn để lại di tích là Tam Hoàng, Ngũ Đế. Nhưng Tam Hoàng, Ngũ Đế thì mỗi sách nói mỗi khác”…

“Lịch sử Thế giới, Nguyễn Hiến Lê ghi”: “Tương truyền ông tổ của dân tộc Trung Hoa là ông Bàn Cổ rồi tới các đời Tam hoàng (Thiên Hoàng, Địa Hoàng, Nhân Hoàng): Hữu Sào (dạy dân làm nhà), Toại Nhân (dạy dân nấu ăn); Phục Hy, (dùng lưới đánh cá, đặt ra chữ viết để thay cái tục lấy dây thắt nút, dạy dân phép cưới vợ gã chồng), Thần Nông (dạy dân cày ruộng, lập chợ, nếm cây cỏ để làm thuốc trị bệnh).

Những điều người Trung Hoa viết có thể có thật về các hoạt động của tiền nhân cư dân bổn xứ vốn là những dân tộc nông nghiệp định canh lúa nước gọi là Miêu chứ không phải của du mục Trung Hoa. Vì cho đến năm 2704 tr.CN, Hậu chủ Hiên Viên mới được các hậu du mục dã man Tây Bắc công kênh lên làm Cộng chủ để đối phó với Liên Minh Xích Quỷ (Nước Xích Quỷ, Nam Miêu từ phía Nam kéo lên hổ trợ cho Bắc Miêu thì không thể có những vị tổ của du mục Trung Hoa ở đất Miêu từ 4480 cho đến 3118 tr.CN. như họ viết. Bởi vì dân du mục thì có bao giờ có thể phát minh ra cầy bừa, làm ruộng nước? Thuần hóa trâu, bò để cày ruộng? Đánh cá? Nếm thảo mộc để làm thuốc? Lập chợ búa…? Có chăng họ thuần hóa ngựa để cởi và kéo xe; dùng sửa bò để chế tạo thực phẩm; dùng da bò, cừu để làm lều, làm áo mặc; dùng nô lệ để giúp việc chăn nuôi và cao nhất là cầm vũ khí, chinh phạt…

Chính người Trung Hoa sau khi chiếm đất nước Xích Thần (Bắc Miêu) và Xích Quỷ (Nam Miêu) đã cướp công lao và cướp luôn cả tên họ của tổ tiên dân bổn xứ.

Từ vua Đế Viêm cũng gọi là Thần Nông cho tới cháu ba đời là vua Đế Minh, cuộc cách mạng nông nghiệp (thuần hóa trâu bò và chế tác cái cày, chế thuốc trị bệnh từ thảo mộc, lập chợ… ) thành công rực rỡ là bước thứ hai: xã hội tiến lên giai đoạn bình sản, ấm no và hạnh phúc.

Tuy nhiên buồn thay! Cũng đồng thời dẫn đến sự thèm thuồng của các bộ lạc di dân du mục hiếu chiến Hoa tộc. Sự thảm bại tất nhiên của nông nghiệp Miêu tức Viêm, Việt trong cuộc chiến tranh tại Trác Lộc và cái chết của vua Đế Lai ở Bản Tuyền kéo theo sự tan rã liên minh Xích Quỷ của Lạc Long Quân và Âu Cơ. Đây là điều phải xẩy đến như lịch sử của các dân tộc nông nghiệp cổ trên thế giới mỗi khi đụng phải cường lực du mục.

V/5 -. BA GIAI ĐOẠN MINH TRIẾT ĐÔNG Á

Kể từ thời điểm Trác Lộc, chúng tôi tạm chia minh triết Đông Á làm ba giai đoạn :

V/5A .- Giai đoạn Việt Nho* nguyên thủy

* Danh xưng Việt Nho do triết gia Lương Kim Định đặt và chính ông đã đề xướng triết lý An Vi.

Từ Toại Nhân (Khoảng 4.000 tr. CN) đến Đế Lai (2.704 tr.CN) và kéo dài với quốc gia Văn Lang với các vua Hùng vương. Đây là giai đoạn văn hóa nông nghiệp Bách Việt thuần túy, xã hội Bách Việt được lãnh đạo bằng chế độ nhân trị mà biểu tượng là mẫu người nhân chủ. Giai đoạn này tương ứng với các nền văn minh nông nghiệp khác trên thế giới thời đó như các vùng châu thổ Lưỡng Hà ở I Raq, sông Nil ở Ai Cập, sông Hằng ở Ấn Độ…

V/5B .- Giai đoạn tiền Khổng Nho

Từ cộng chủ Hiên Viên (sau đổi tên là vua Hoàng Đế chiếm được nước Xích Thần (2.704 tr.CN)* đến đức Khổng Phu Tử (554-479 tr.CN). Đây là giai đoạn hai nền văn hóa du mục và nông nghiệp tranh dành ảnh hưởng vào xã hội thái cổ. Một bên là các dân tộc du mục Hoa tộc (kẻ chiến thắng); Một bên là các dân tộc nông nghiệp Miêu tộc (kẻ bị xâm lăng). Cho đến đầu thời nhà Chu thì xã hội Hoa tộc đã hoàn thành được một nền văn hóa khá ổn định: quân chủ phong kiến với guồng máy triều đình, quan lại và đội quân chuyên nghiệp của du mục hội nhập với truyền thống nhân chủ, nhân trị cùng với toàn bộ tư tưởng minh triết của nông nghiệp Miêu tộc.

Mẫu người Nhân chủ vốn là biệt sắc tư tưởng cao đẳng mang tính giáo hóa đại chúng Bách Việt bị vua chúa Hoa tộc chiếm lấy, biến thành mẫu người quân tử (kế tự) của giai cấp quý tộc. Mất tính Nhân chủ, xã hội Bách Việt chỉ còn là những người hạ lưu, chế độ Nhân trị teo lại, rút vào hệ thống làng xã. Bởi đó, ngày nay, nếu muốn biết giá trị văn hóa Việt cổ, người làm văn hóa phải tìm học làng xã Việt Nam là vậy.

* Các bộ tộc nước Xích Thần sau trận Trác Lộc 2704 tr.CN bị đồng hóa trong hệ thống Hậu của du mục và gọi chung là chư hầu. Do đó, thời này có hàng vạn chư hầu. Mỗi chư hầu có những truyền thống văn hóa, xã hội, chính trị, tôn giáo mà triều đình trung ương phải tôn trọng. Đến khi các chư hầu thôn tính nhau còn lại vài ngàn, rồi vài trăm, vài chục… thì những biệt sắc đặc thù nông nghiệp của xã hội Miêu, Viêm dần dần tràn ngập xã hội hợp chủng mới đồng thời mang quốc tịch mới: Văn minh Trung Hoa với nền quân chủ chuyên chế và xã hội phụ hệ.

Trong khi đó, nước Xích Quỷ non yếu ở phía Nam suýt tan rã (sau Trác Lộc) vì bị mất lãnh đạo, đã được bà Âu Cơ giúp đỡ lập quốc trở lại với quốc hiệu mới là Văn Lang. Hệ thống làng xã Việt tộc về sau dù bị cường lực Hoa tộc đô hộ suốt một ngàn năm vẫn kiên trì giữ vững truyền thống tự trị làng xã cho đến giữa thế kỷ 20 thì chế độ cộng sản làm cho tàn lụi. Tôi tin rằng, tinh thần tự trị của làng xã vẫn tiếp tục sống tiềm ẩn và chắc chắn sẽ có ngày hồi sinh khi có điều kiện.

V/5C .- Giai đoạn Khổng Nho

Từ Khổng Tử trở về sau gọi là Khổng Nho hay là Nho giáo do đức Khổng Tử sưu tầm và san định (sắp xếp lại cho có hệ thống) khi mà nền văn hóa hợp chủng Hoa-Việt đang càng ngày càng sa sút vì xã hội nhà Chu đi vào thời li loạn, đạo đức, luân lý suy đồi. Truyền thống quân tử kế tự nhờ Khổng Tử mà chuyển thành quân tử kế hiền*

* Danh xưng quân tử không còn là đặc quyền kế tự của giai cấp quý tộc nữa mà dành cho bất cứ ai có đạo đức, luân lý gọi là kế hiền. Một vài danh xưng khác có phần khiêm nhượng hơn: Hiền nhân, Kẻ sĩ, Thức giả…

Nhìn sâu hơn vào lịch sử, xã hội Trung Hoa từ ngày lập quốc cho đến giai đoạn này, sự chuyển hướng rất rõ nét: Khi Hoa tộc mới chiếm được đất Miêu thì vua chúa Hoa tộc dành hết những gì cao quý nhất của Miêu cho giai cấp quý tộc của họ, như:

- Người là chủ (Nhân chủ) vốn là luận đề giáo dục rất thực tiển mà mỗi người dân Miêu phải cố gắng đạt tới. Khi chuyển qua Hoa tộc thì “người là chủ” biến thành “vua là chủ (quân chủ), người là tôi… tớ”.

- Đất đai trong thiên hạ là của muôn dân, dân làm được tới đâu ăn tới đó. Đất đai, gia súc của cấp lãnh đạo Miêu tộc được chia cho dân làm hộ, nuôi hộ, ăn chia theo phép tỉnh điền… Khi chuyển qua Hoa tộc thì mọi đất đai, tài sản kể cả người đều là của nhà vua.

- Vua Miêu đối với dân như cha mẹ đối với con, thầy đối với trò… trong chế độ Nhân trị – Khi chuyển qua Hoa tộc thì trở thành chuyên chính, pháp trị “quân xử thần tử, thần bất tử bất trung!”(vua bảo dân chết, dân không chịu chết là phản nghịch, là phản quốc)…

Tuy nhiên, sau một thời gian dài sống với Miêu tộc, người Hoa cũng học được đạo làm người, đạo làm vua của Miêu dân, nhưng họ chỉ học mà thôi, còn ứng dụng thì không, để “làm cảnh mà thôi”. Tỉ dụ như chuyện kế hiền vừa kể ở trên. Chuyện: Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh (dân là quý nhất, kế đến là thần xã tắc, cuối cùng mới là vua). Chuyện: hàm vị phụ mẫu chi dân của các vua quan. Chuyện: Đem vương hóa mà vỗ về trăm họ hay thương dân như con đỏ… Những chuyện vừa kể quả nhiên là những bài giảng vô cùng giá trị mà Nho giáo đã phóng tác từ xã hội Miêu tộc để làm bài học thuộc lòng cho các bậc quân vương…Tuy nhiên, hình như suốt 5000 năm kể từ ngày Hoa tộc lập quốc chỉ có vài ông vua đầu tiên như Nghiêu, Thuấn… là có lưu tâm. Còn về sau thì thả nổi!

Có người thắc mắc tại sao một nền văn hóa sáng chói như thế mà lịch sử Đông Á trong suốt nhiều ngàn năm vẫn không xây dựng được một xã hội thái hòa? Chẳng những thế lại còn đi vào suy thoái khi kề cận với văn minh Tây phương?

Đúng là đã có những nghịch lý xã hội.

V/6 .- NHỮNG NGHỊCH LÝ TRONG XÃ HỘI TRUNG HOA CỔ

V/6A .- Nghịch lý giữa 2 nền văn hóa dị biệt

Khởi đầu, khi nhân loại sống theo phương thức hái lượm và trồng trọt gọi chung là nông nghiệp thì tất cả mọi dân tộc sống theo chế độ mẫu hệ, gọi là Thị tộc (phái nữ cầm quyền trong gia đình). Khi một phần loài người chuyển qua phương thức chăn nuôi gia súc, thì giới này đổi thành chế độ phụ hệ (phái nam cầm quyền).

Ở xã hội mẫu hệ, những hoạt động của cộng đồng xã hội được phân định thành lệ hầu như không bao giờ thay đổi. Trong một gia đình, người mẹ là chính, có thể có vài người chồng để có nam nhân thay nhau làm việc đồng áng. Con cái theo họ mẹ. Một gia đình như vậy gọi là thị.

Nhiều gia đình cùng một thị họp lại thành một thị tộc. Những người mẹ cùng một thị tộc cử ra một người có tài đức, sức khỏe đảm nhiệm chức vụ trưởng thị hay trưởng tộc.

Các trưởng thị, trưởng tộc (của nhiều họ khác nhau) trong cùng một khu vực họp lại thành một bộ và công cử ra một người đứng đầu gọi là bộ tộc trưởng hay tù trưởng bộ lạc. Trong sách này, chúng tôi thường dùng danh xưng tộc trưởng bộ tộc để gọi các bộ tộc trưởng. Tưởng cũng nên nhắc, các tộc trưỏng bộ tộc Miêu tức Viêm ở châu thổ sông Hoàng Hà và trung Trung Hoa sau chiến tranh Trác Lộc đã được cộng chủ Hiên Viên (vua Hoàng Đế) phong làm thành vạn vua chư hầu hoặc vua phụ dung…

Trong bối cảnh cộng đồng các bộ tộc như thế, thông thường vị tù trưởng bộ tộc xã hội mẫu hệ nhẹ về quyền uy và tài sản nhưng lại nặng về trách nhiệm dẫn dắt, giáo huấn và tế tự . Cho đến sau chiến tranh Trác Lộc, nước Văn Lang được thành lập thì các bộ tộc, bộc lạc này dần dần chuyển thành làng xã.

Xã hội nông nghiệp Miêu tức Viêm, về sau gọi là Bách Việt có hàng ngàn, hàng vạn bộ tộc, bộ lạc như thế và gọi chung là thiên hạ. Thiên hạ khai hoang lập ấp khắp nơi và hầu như không có biên giới. Các tộc trưởng trong Thiên hạ họp nhau công cử lên một vị vua gọi là Thiên tử.

Thiên tử có nhiệm vụ vừa là đại tù trưởng, vừa là đại tư tế, đại phán quan… do vậy, chính sách cai trị của Thiên tử đi theo đường lối gọi là vương đạo

*, thi hành vương đạo thì gọi là vương hóa. Khi có loạn, Thiên tử kêu gọi các bộ tộc, bộ lạc góp dân quân, lương thực, vũ khí để thi hành công đạo. Xã hội đó gọi là xã hội Nhân trị, con người trong xã hội đó lấy mẫu người Nhân chủ để duy trì luân thường, đạo lý…

* Vương đạo: Dùng đức nhân để trị nước, dùng nghĩa để thu phục nhân tâm, dùng lễ nhạc để cải hóa dân tình, lo cho dân như lo cho mình…; đó là đạo của bực vương. Trái lại, bá đạo là dùng hình phạt để cai trị cho công bằng, dùng kỹ thuật để làm nước giàu, mạnh, dùng binh lực để chiếm đất đai; đó là đạo của các bực bá. Đại đa số các vua chúa Trung Hoa cổ xưng là dùng chính sách vương đạo nhưng đấy chỉ là khẩu hiệu mà thôi, hầu như triều đại nào cũng áp dụng bá đạo để trị dân.

Con cháu của Thiên tử trong văn hóa Việt cổ mang họ mẹ, do đó không có chuyện nhường ngôi cho con để duy trì dòng họ. Dù vậy vẫn có vấn đề vận động truyền ngôi cho anh em để duy trì chức vị Thiên tử cho người thân trong thị tộc. Sau một thời gian vài anh em của Thiên tử dựa vào nhau để tạo áp lực công cử trong Đại hội các Tộc trưởng thì cũng phải đến giai đoạn hết người và việc tuyển chọn của Đại hội các Tộc trưởng lại bắt đầu căn cứ trên đức độ, tài năng mới* của nhân sĩ các Thị tộc khác…

* Đế Minh, cháu ba đời vua Đế Viêm, sau vài triều đại thuộc họ khác, đã được công cử lại. – Đế Nghi có lẽ thiếu tài đức đã không được công cử. Lộc Tục là em, lại được công cử nhưng không nhận. Cuối cùng, giải pháp chia làm hai nước Xích Thần (Đế Nghi) và Xích Quỷ (Lộc Tục) đã được chấp nhận. – Con trưởng Lạc Long Quân thuộc họ Hồng Bàng Thị phải thuyết phục 15 Bộ tộc và được bà Âu Cơ ủng hộ mới được công cử lên ngôi Hùng vương. – Tiết Liệu là em thứ 12 của vua Hùng thứ 6, đã chứng tỏ am hiểu đạo lý, luân thường trong việc chế tạo bánh chưng, bánh dầy đã được chọn làm vua…

Làm Thiên tử là tiếp nhận trách nhiệm hơn là danh vọng, quyền uy và của cải. Do vậy, người được công cử thường không muốn nhận và đề bạt lại người khác. Do vậy mà có truyền thống nhún nhường nhiều lần trước khi lên ngôi. Cuối cùng khi không thể từ chối mới lễ độ tiếp nhận chứ không dành dựt tàn khốc, đầy máu và nước mắt như các chế độ quân chủ chuyên chế sau này.

Triết gia Lương Kim Định nhận định về hai xã hội nông nghiệp và du mục như sau: “Người nông nghiệp bản chất hiền lành nhưng tư tưởng thâm trầm do phải sống thích nghi với thiên nhiên. Họ thường xuyên quan sát vũ trụ, khí hậu, sông nước, cỏ cây… rồi theo thời gian họ rút ra những kinh nghiệm sống : Hợp với thiên nhiên thì tốt mà nghịch lại thì xấu. Trời, đất, vạn vật cùng một thể và những thứ đối chọi nhau như âm dương, sáng tối, nắng mưa, đực cái… phải nương nhau sinh tồn và tiến hóa tạo thành nhân sinh quan và vũ trụ quan của người nông nghiệp Đông Nam Á. Người du mục thì trái lại, họ thiên về cường lực, chuộng thực tiễn, mạnh được yếu thua… Truyền thống văn hóa người du mục do đó hoàn toàn khác hẳn người nông nghiệp” (Sách Nhân Chủ).

Xã hội nhân trị của Miêu tức Viêm mà về sau gọi là Bách Việt đã tồn tại nhiều ngàn năm trước công nguyên trên môt vùng đất rộng lớn gồm từ châu thổ sông Hoàng Hà vượt qua sông Dương Tử, sông Hồng Hà xuống đến sông Cả và sông Mã. Vị Thiên tử của chế độ Nhân trị này không ăn thuế … Bù lại, hàng năm vua và triều đình được cung ứng “đồ tuế cống” của các bộ tộc, và được thụ hưởng hoa lợi từ những công điền cung cấp tùy theo từng nhiệm vụ. Ruộng đất riêng của vua và quan chức triều đình được người dân canh tác và phân chia theo phép tỉnh điền*

* Điền sản của mỗi vị được chia làm 9 phần bằng nhau, dân chúng chia nhau canh tác 8 phần để hưởng lợi, đồng thời cùng nhau làm phần còn lại, 100% huê lợi phần còn lại đó sẽ nạp cho người chủ đất đang có công tác lãnh đạo đất nước.

Luật lệ Bách Việt có 10 điều, chủ yếu khuyên răn dân chúng gìn giữ đạo đức, luân lý của một xã hội nhân nhủ. Vua và dân cùng thờ cúng trời, đất và tổ tiên và những anh hùng dân tộc có công với đất nước gọi là đạo Tam Thông. Về sau biến dạng thành đạo thờ Ông Bà, vì chỉ có vua (trong giai đoạn phong kiến và chuyên chế) mới thông với trời, đất trong lễ tế giao).

Văn hóa truyền thống, nền tảng Nhân chủ và chế độ Nhân trị của Miêu tức Viêm còn gọi là Bách Việt hình thành một xã hội thái hòa vững chải kéo dài không dưới 4.000 năm kể từ năm 2704 tr.CN trở về trước (Thời kỳ Văn hóa Bắc Sơn).

Về sau, khi cuộc chiến tranh vệ quốc của Liên minh Xích Quỷ (2704 tr.CN) thất bại thảm hại, nền văn hóa nông nghiệp tuyệt diệu này còn được duy trì ở phương Nam thêm 2.446 năm với 18 dòng họ nối nhau làm Hùng vương nước Văn Lang.

Phải cho đến năm 111 tr. CN, khi Hoa tộc thôn tính nước Nam Việt (nhà Triệu) đặt ách nô lệ lên nước ta thì xã hội mẫu hệ và truyền thống tốt đẹp Việt tộc mới dần dần đổi qua chế độ phụ hệ. Tuy nhiên một điều cực kỳ may mắn cho con cháu Việt tộc là nền văn hóa siêu việt này vẫn tồn tại sau lũy tre làng nhờ sựsống còn của làng xã Việt Nam. Khẩu hiệu “Phép vua thua lệ làng” là một niềm hãnh diện của làng xã mà hầu như các thế lực quân chủ chuyên chế Việt Nam muốn dẹp đi nhưng không thể nào phá đổ nổi .

Mặc dù khi người ta nhận ra được giá trị của làng xã Việt Nam thì nó đã không còn như nguyên thủy của nhiều ngàn năm về trước. Rõ ràng làng xã Việt Nam đã phải thi thố khả năng tuyệt diệu của nó một cách vô cùng cam go trong những căn cứ nhỏ hẹp dưới áp lực của các chế độ quân chủ chuyên chế luôn luôn tìm cách trấn áp, phá bỏ để độc quyền cai trị. Cuộc đấu tranh để sống còn này được thể hiện qua một khẩu hiệu cực kỳ khi quân, phạm thượng của người dân trong làng xã Việt Nam: “Phép vua thua lệ làng”. Nó mạnh mẽ đến độ trong suốt nhiều ngàn năm, quyền hành của nhà vua chỉ về đến quận, huyện mà thôi. Tinh thần Nhân chủ, Nhân trị và ý niệm an nhiên tự tại của người dân trong làng xã Việt Nam thực đáng cho người đời sau suy gẫm!

Làng xã Việt Nam như những bang tự trị trong một liên bang mà quận, huyện chỉ là cơ chế điều hợp trong suốt 2000 năm kể cả những giai đoạn bị Tầu và Pháp đô hộ *.

* Xin xem III/4 Tập quán làng xa

Như thế, nghịch lý đã xẩy ra khi Hoa tộc pha trộn nền văn hóa du mục của họ với nền văn hóa nông nghiệp Bách Việt. Vì vậy trong nhiều ngàn năm, xã hội Hoa tộc dù được xây dựng ít nhất 75% trên nền tảng văn hóa Bách Việt đã không đạt được thành quả như xã hội Việt cổ nguyên thủy. Trái lại đã chất chứa đầy mâu thuẩn trên nhiều lãnh vực khiến đất nước chỉ tạo được thanh bình từng giai đoạn ngắn ngủi mà thôi.

V/6B .- Nghịch lý xuất phát từ chế độ quân chủ chuyên chế

Truyền thống du mục Hoa tộc từ giai đoạn quân chủ phong kiến đến quân chủ chuyên chế với những dòng vua cha truyền con nối mà hầu hết các triều đình Việt Nam về sau cũng noi theo. Truyền thống này đã tỏ ra vô cùng gượng ép khi chung sống với nền văn hóa tiền Nho lẫn Khổng Nho. Đấy là nghịch lý đã làm giảm hiệu năng của nền văn hóa đặc thù nông nghiệp Bách Việt.

Bởi vì khi cố hòa giải cho mối tình du mục Hoa tộc và nông nghiệp Bách Việt, đức Khổng Phu Tử đã hết sức đề cao thuyết thiên mệnh để tránh đi cái tiếng làm cách mạng vô cùng nguy hiểm cho bản thân ông. Thuyết thiên mệnh dựa vào danh xưng Thiên tử và Thiên hạ của Miêu tộc để hóa giải mâu thuẫn của chế độ quân chủ chuyên chế và truyền thống Nhân chủ, Nhân trị đang tồn tại trong dân chúng. Tuy nhiên, ngay vào thời đại của ông, vua chúa các nước chỉ khoái tôn quyền nhà vua mà thôi và rất ngán cái chuyện “dân vi quý, quân vi khinh”. Vì thế, chẳng những ông bị thất nghiệp dài dài mà có lúc còn bị giới này đối xử rất bạc bẽo, thô bạo .

Xã hội Trung Hoa và các xã hội ở Đông Á với chế độ quân chủ chuyên chế, nếu may mắn gặp được vị vua hiền đức, anh minh thì còn giữ được vài phần nhân trị. Còn chẳng may gặp phải thứ hôn quân vô đạo thì nhân trị chỉ có thể… ở trong tù.

Xã hội Việt Nam trong suốt 10 thế kỷ (939-1900) dù tổ chức chính quyền theo đường hướng quân chủ chuyên chế Hoa tộc nhưng may mắn nhờ hệ thống hàng ngàn làng xã tiếp tục giữ vững cái gốc Nhân chủ, Nhân trị. Quan lại triều đình Việt đa số xuất thân từ làng xã đã ảnh hưởng rất mạnh lên đường lối trị quốc của chính quyền trung ương.

Tỉ dụ: Khi nhà vua muốn làm một việc gì có thể gây tổn hại cho dân, cho nước thì thường bị các quan cản trở, tìm cách bác đi. Và, nếu triều đình không ngăn chặn được, khi lệnh xuống đến cấp làng xã lại bị phản ứng của dân nếu lệnh vua đụng đến lệ làng.

Du khách thế giới thường ca ngợi những kỳ quan thế giới như Vạn lý trường thành, Kim tự tháp, vườn treo Babilon, tượng thần Jupiter, lăng vua Alicarnate… hay những trường giác đấu ở La mã, điện Louvre ở Pháp… có lẽ những du khách ấy quên rằng, biết bao triệu người đã bị đày đọa và gục chết dưới chân những kỳ quan ấy. Những thứ ấy được dựng lên để phục vụ một ông vua oai quyền mà không đem lại lợi ích gì cho ai cả, có chăng để lại trong lịch sử nhân loại những vết bẩn không bao giờ rửa sạch được.

Khác hẳn với những nước có kỳ quan nói trên, nước Việt dù là một nước đông dân và hùng mạnh hơn các nước trong vùng như Chiêm Thành, Lào, Campuchia, Thái Lan, Miến Điện… nhưng cung điện, lăng miếu, đền đài, thành quách của nước Việt không đồ sộ, nguy nga, tráng lệ bằng các nước kia. Trái lại những việc ích quốc lợi dân như đắp hàng chục ngàn cây số đê điều chống lũ lụt, đào hàng chục ngàn cây số sông đào dẫn nước tưới ruộng khắp toàn quốc, mở mang lưu thông đường thủy, xây đập giữ nước chống hạn… Những con số vừa kể quả đáng được gọi là những kỳ quan đầy nhân tính hiếm có đã được các triều đình Việt tộc xưa quan tâm thực hiện.

Hàng năm, trong những dịp lễ hội đầu mùa, vua quan nước Việt có truyền thống xắn quần, cột áo lội xuống ruộng, cầm cày thúc trâu vở luống đất đầu tiên hoặc tự tay nhà vua đánh trống cổ vũ dân chúng hăng hái tham gia công tác khởi công đào kinh, đắp đê, xây đập… Để cho muôn đời nhân dân an cư lạc nghiệp.

Chỉ một vài tỉ dụ nêu trên đã nói lên dấu ấn tư tưởng Nhân chủ và xã hội Nhân trị trong xã hội Việt Nam dù đã bị mờ nhạt đi rất nhiều so với các thời đại Hùng vương trở về trước.

V/7 .- VÀI MẪU NGƯỜI ĐẶC TRƯNG TRÊN THẾ GIỚI

Nhân đây xin ghi lại một vài mẫu người đặc trưng của các nước trên thế giới mà triết gia Lương Kim Định ghi lại trong sách Nhân Chủ:

Thiên tài : Vĩ nhân, người có biệt tài về một ngành chuyên môn: mỹ thuật, khoa học, văn nghệ, quân sự, xã hội…triết gia Nietzsche nhận xét: “thiên tài vị tất đã là nhân!”

Người hùng : Có tài về quân sự, mưu lược hay vũ dũng, tung hoành ngang dọc để tranh đoạt chiến công, quyền lợi… Mẫu người này ít quan tâm tới nhân nghĩa

Chính nhân : Mẫu người của Âu châu thế kỷ 17, là kẻ biết xã giao, lịch thiệp, có uy tín, được dân chúng yêu quý và giới quí tộc nể vì.

Gentlemen : Người quí phái trong xã hội Anh quốc. Mẫu người này thuờng tỏ ra mình thông minh, trầm tĩnh, cương nghị hơn người nhằm đề cao đẳng cấp giới mình trong xã hội. Gentlemen như một loại hàm vị dành cho giới thượng lưu, quý tộc do đó họ cũng có những ưu đãi trước nhiều giới trong xã hội Anh.

Cán bộ đảng viên : Cán bộ, đảng viên trong chế độ cọng sản đa số vốn xuất thân từ giai cấp thợ thuyền và nông dân. Họ được học tập một số bài bản, kinh điển chủ nghĩa duy vật biện chứng. Họ cuồng tín phụng sự đảng hay tôn thờ lãnh tụ đảng đã được lý tưởng hóa một cách giả tạo. Họ thường tự xưng là đẳng cấp “siêu việt”, là “đỉnh cao của trí tuệ loài người”. Để đạt cứu cánh, họ bất chấp phương tiện .

Người quân tử .- Mẫu người có đạo đức, luân lý, cao đẹp của các nước Trung Hoa, Việt Nam, Triều Tiên, Nhật Bản… trước đây. Họ là những người rất được xã hội tôn trọng và coi đó là mẫu người lý tưởng. Các bậc vua chúa cũng phải dựa vào uy tín của họ để bảo vệ ngai vàng.

Bằng con mắt vô tư, chúng ta thấy những mẫu người nói trên đều được các xã hội Đông, Tây tôn trọng ngoại trừ cán bộ đảng viên đảng cộng sản thì hoàn toàn ngược lại mặc dù họ được đảng và chính quyền cộng sản tôn họ lên hàng “ưu việt” và “đỉnh cao trí tuệ của loài người” và dành cho họ nhiều đặc quyền, đặc lợi.

V/8 .- NGƯỜI NHÂN CHỦ

Nhân đây xin phân tích sơ qua hai danh xưng Dân chủNhân chủ rất dễ bị lẫn lộn.

Dân chủ là một trong những hình thức cơ chế chính quyền mà điều đặc trưng là việc tuyên bố nguyên tắc thiểu số phục tùng đa số và thừa nhận quyền tự do bình đẳng của mọi công dân. Đặt nặng quyền lợi của người dân trong một cộng đồng xã hội, một quốc gia… Điển hình của quyền lợi này là tự do ứng cử các chức vụ được quy định theo Hiến pháp hoặc bầu cử người đại diện cho mình ở các cơ chế lãnh đạo quốc gia, tỉnh, thành phố… Từ thể chế dân chủ mà phát sinh các quyền lợi khác như tự do tôn giáo, tự do lập đảng, hội đoàn, báo chí, hội họp, tự do đi lại, cư trú… nói chung là Nhân quyền.

Trong khi đó Nhân chủ mang tính chất minh triết, chỉ ra đường lối xây dựng con người, xây dựng xã hội, giáo dục đại chúng biết trân quí giá trị nhân bản và đời sống con người trước “vũ trụ”. Chữ vũ trụ được hiểu là mọi vấn đề liên quan tới con người như cọng đồng xã hội, pháp luật, văn hóa, truyền thống, nghệ thuật, thiên nhiên… hoặc liên quan tới sự không để mình bị lôi cuốn, đam mê vì vật chất, danh vọng, quyền lợi bất chính…

Đức Khổng Tử hiểu chữ “Nhân” có nhiều bậc. Cao nhất là bậc Thánh nhân, dưới Thánh nhân là Quân Tử tức là người có nhân cách, đạo đức, mô phạm để giữ địa vị dìu dắt, làm gương cho đại chúng.

Triết gia Lương Kim Định, khi xét vị thế của người quân tử Đông Á, ông cho rằng: người quân tử mang một tầm vóc khác hẳn những vị kia (những mẫu người đặc trưng trên thế giới) một cách diệu kỳ:

Chữ quân tử hay nhẹ hơn, hiền nhân, mang ý nghĩa tương tự chữ nhân chủ, tuy nhiên nhân chủ mang tính chất minh triết, chỉ ra đường lối xây dựng xã hội, giáo dục đại chúng; còn quân tử, hiền nhân mang tính cách hoàn thiện của kẻ sĩ. Theo nguyên lý Tam tài (Thiên, Địa, Nhân*) cũng gọi là Tam hoàng*, mà hoàng đồng nghĩa với quân*, vương* nên quân, vương cũng chỉ vào nhân .

Chữ Vương

* Truyền thống văn hóa Miêu Viêm gọi Nhân (Người, mang tính đại chúng) là một trong Tam tài. Khi Hoa tộc thôn tính băc Miêu thì vua chúa Hoa tộc dành độc quyền vị thế Nhân trong Tam tài cho giai cấp thống trị mà thôi. Do vậy hoàng, quân, vương cũng có nghĩa là Nhân. Chúng ta thấy ngay sự độc chiếm của quý tộc Trung Hoa khi cố tình gò ép chữ Nhân mang tính đại chúng thành hoàng, quân, vương mang tính cá nhân với những uy quyền cường lực của dòng họ kẻ làm vua.

Chữ vương biểu thị bằng 3 nét ngang chỉ Thiên, Địa, Nhân; còn một nét sổ dọc ở giữa là quán thông Tam tài. Con người vừa thông với trời, thông với đất vừa nối kết giữa người với người. Cho nên nhân, nghĩa, lễ, trí, tín đúng là những đức tính của con người nhân chủ đại chúng.

Nói rõ hơn, khi còn trong giai đoạn văn hóa nông nghiệp Bách Việt thuần túy, toàn dân đều cố gắng đặt mình trong ý thức làm chủ để xứng đáng là một trong ba ngôi: Trời là chủ, Đất là chủ và Người là chủ. Đến khi nền văn hóa này bị du mục Hoa tộc chiếm đoạt thì vua chúa Hoa tộc dành riêng ngôi vị Người là chủ cho kẻ làm vua mà thôi . Đó là khởi đầu của chế độ quân chủ phong kiến và chuyên chế: Tất cả mọi thứ (kể cả người) trong thiên hạ đều là của nhà vua.

V/9 .- MỘT CHUYỆN VUI

Giống nhưng mà khác .

Một chiều tối sau bữa tiệc vui ở tiệm ăn, có hai người bạn cùng nhau ra xe trở về nhà. Da mặt người có xe ửng hồng vì phản ứng của men rượu còn người bạn đi cùng thì có vẽ tỉnh táo. Họ thong thả ra bãi đậu xe để trở về nhà, người bạn nói:

- Anh để tôi lái xe cho.

- Không được đâu, xe này anh không quen, để tôi lái, cứ yên tâm.

- Này, chung quanh mấy cái restaurant này cảnh sát nó rình dữ lắm, anh không sợ nó bắt anh lái xe trong khi say rượu à? Chẳng những tù mọt gông mà còn bị tống về Việt Nam đó!

Người có xe chắt lưỡi:

- Việc gì phải sợ bạn ơi!

  • Lo trước cho an toàn, rắc rối với luật pháp mệt lắm đa!

Người có xe gật đầu :

  • Mình mới ngụm một tí là mặt đỏ lên như say rượu, thật là chẳng giống ai… OK! Đừng để người ta hiểu lầm là hay nhất. Vậy nhờ bạn lái xe dùm tôi.

Nói xong, người chủ xe trao chìa khóa cho bạn và dặn một vài chi tiết khác biệt của chiếc xe. Họ lên xe, rời bãi đậu và xe bắt đầu chạy qua quảng đường mà cảnh sát thường phục kích. Trong khi người bạn lo lắng nhìn ngược xuôi thì người kia vui vẽ âm ư một bài ca vui. Đến một ngã tư có bảng “Stop”, quả nhiên họ thấy một xe cảnh sát đậu khuất một tàn cây.

Người bạn nhanh nhẹn rà chân thắng. Xe đứng hẳn sau bảng “Stop” đúng luật. Anh sờ lên giây “seat-bell”, giọng nói mất hẳn tự nhiên:

- Cảnh sát kìa! Coi chừng, anh đã cài “seat-bell” chưa?

Người chủ xe cười:

- Bạn ơi, mình chỉ nên coi chừng kẻ xấu thôi. Nếu có cảnh sát ở đây thì mình càng yên tâm chứ! Tụi mình đóng thuế để họ bảo vệ an ninh cho mình cơ mà!

- Nhưng tôi sợ, tôi cũng có uống tý rượu, lỡ ra họ đo…

- Ây dà! Đo với thử… nhằm nhò gì ba cái chuyện lẻ tẻ mà quýnh lên! Mình giữ luật đâu phải vì sợ cảnh sát… mà vì an nguy của mình và của mọi người mà thôi.

Người bạn chép miệng:

- …!! Dù vậy mình cũng nên đề phòng chứ!

- Dĩ nhiên lúc nào mình cũng nên cẩn thận! Nhưng mà… nếu vô ý phạm luật, bị cảnh sát quay đèn thì mình nên khen họ chứ, sao lại đề phòng họ như đề phòng kẻ gian?… Vui vẽ nhận lỗi và tự hứa lần sau mình nên lái xe cẩn thận là hay nhất phải không?

  • Thiệt! Tui chưa thấy ai tiếu lâm như anh à nghe!

Người kia mĩm cười tự nhủ: “!!! Kể ra… khi suy nghĩ của một người không giống đa số thì trở thành “tiếu lâm”, trở thành “mát” thật, dù sự suy nghĩ đó là chính đáng.

Qua chuyện vui trên, chúng ta có thể thấy rõ, tính nhân chủ thể hiện khá rõ nét ở một trong hai người bạn ấy. Vậy ai là kẻ nô lệ luật pháp, ai là người làm chủ luật pháp?

Bàn về xây dựng con người Nhân chủ, học giả Nguyễn Việt An góp ý như sau:

“Muốn xây dựng xã hội Nhân bản toàn diện thì phải có con người Nhân chủ. Con người Nhân chủ biết rõ mình ở đâu mà ra? Thành bởi gì? Ra đời để làm gì? Rồi trở về đâu? Nên sống sao cho ra sống, không quá lụy vào trời (tình cảm) hay quá ỷ vào đất (lý trí), không vướng vào ý hệ này, chủ nghĩa kia. Ngửng cao đầu tham dự vào cuộc sinh sinh hóa hóa với trời cùng đất.”

Biểu tượng ông Bàn Cổ mà người xưa để lại vừa mang cái giản dị đến độ một thiếu niên cũng tiếp nhận dễ dàng. Nó vừa mang cái thâm sâu, cao diệu mà những học giả uyên thâm cũng phải tìm học sảng khoái. Chuyện ông Bàn Cổ không nhắc tới tâm linh, đạo đức, luân lý, không nói tới quan niệm nhân sinh, không đã động đến con người lý tưởng, không có những cụm từ chứa đầy triết lý như nhân chủ, nhân trị, nhân bản, nhất nguyên lưỡng cực, nhị nguyên… của nhiều ngàn năm sau, nhưng mỗi người nghe, tùy mức độ tiếp nhận, đều có thể hiểu được mình, hiểu được người, thấu đáo được vũ trụ chung quanh. Để từ đó, tùy vị thế trong cộng đồng xã hội của mình, nhìn ra một lối đi chân, thiện, mỹ cho mình, cho người, cho xã hội, cho thiên nhiên, vũ trụ… như câu chuyện đã kể :

Ông càng lớn thì trời càng cao, đất càng dầy… Khi ông chết, mắt biến thành mặt trăng, mặt trời, máu mỡ chảy ra thành biển cả, thân xác rã ra thành những vùng đất, núi lớn trong thiên hạ, lông tóc đâm rể xuống đất mọc lên cây cối… Hai hình ảnh: Lúc mới sinh thì Trời Đất xuất hiện thật nhỏ trong tầm mắt bé sơ sinh; lúc chết thì thật vĩ đại… cho ta cái nhìn rất rõ nét giá trị của con Người trong vũ trụ vậy.

Toàn bộ câu chuyện đi từ những điểm thật nhỏ như đếm từng ngày, như đo từng thước, như cái liếc mắt, như khi vui lúc buồn… để rồi lớn lên, cao thêm, dày thêm… thoát chốc 18.000 năm bùng lên, hùng vĩ đến vô cùng, hành động đến vô cùng và kết quả cũng vô cùng! Quả nhiên là một lối nói ẩn dụ, mới nghe thì có vẽ mộc mạc, tiếu lâm đến độ hoang đường mà thực sự mang một tư tưởng trùm lấp không giới hạn và sự uyên thâm vô lượng có giá trị đến muôn đời về sau.

V/10 .- KẾT LUẬN V

Xin đố quý độc giả một câu đố vui để kết thúc Chương V này:

Tại sao những loài sâu bọ sống trên thân xác ông Bàn Cổ trở thành loài người?

Tại sao loài sâu bọ lại biến thành người?

Ta thử ngưng lại vài phút, pha một tách trà thật ngon, thưởng thức cái mùi vị truyền thống… lắng nghe lòng ta nghĩ sao về loài sâu bọ này!…

- Ừ nhỉ! Kể cũng lạ, vì sao chúng lại thành người?

- Nhất định đây là một câu kết thúc cực kỳ quan trọng, nếu ta không thưởng thức, không “ngộ” được câu này thì coi như chuyện ông Bàn Cổ hoàn toàn hỏng!! Và bài luận này phải “sổ toẹt”!!

- Loài sâu bọ sống bám trên người ông Bàn Cổ chắc hẳn là những con chí, con rận, con ghẻ… Nhưng mà! Lý do nào thúc đẩy bọn chí rận này biến thành người mà không phải một con gì khác?

Trong một truyện dài dã sử mang tên “Nước Non Tiền Sử”, tôi có dành một đoạn viết về chuyện ông Bàn Cổ. Nay xin trích phần chót của đoạn đó như một suy tư, một gợi ý của người viết để quý độc giả thử nghiệm lại xem, may ra chúng ta khám phá thêm những ý tưởng mới qua câu kết hài hước, hóm hỉnh, vô cùng trầm mạc của người xưa!

……………………………..

“Một thanh niên đang đi ở vòng ngoài cùng, bỗng chen vào giữa câu chuyện :

- Thưa thầy! Vậy thì người ta bắt nguồn từ loài chí rận chứ không phải từ ông Bàn Cổ sinh ra hay sao?

Nghe hỏi, một cô gái có mặt trong nhóm bật cười, cô hóm hỉnh góp ý:

- Vô duyên không! Ông Bàn Cổ… là… đàn ông… làm sao sinh đẻ cơ chứ?

Cô vừa dứt lời thì lập tức những tiếng kêu thét vang lên ồn ào như vỡ chợ của bọn thanh niên đang đi chung quanh thầy Dực:

- Đúng lắm!

- Chí lý!

- Cha nào ấm ớ thế! Ông Bàn Cổ chứ đâu phải bà Bàn Cổ mà đòi đẻ! Tếu thật!

Cô gái thẹn, phân trần:

- Này! Tôi nói thế không đúng hay sao!!

Thầy Lê Dực tươi cười góp ý:

- Ông Bàn Cổ, ta gọi bằng ông, nhưng theo tôi nghĩ thì vị tất đã là ông hay bà. Người xưa dùng câu chuyện ông Bàn Cổ như một ẩn dụ, truyền đạt cho con cháu chứ thực tế làm gì có người nào kỳ lạ như ông Bàn Cổ phải không?

- Dạ đúng vậy thầy!

Thầy Dực đưa tay lên trán bóp nhẹ, chặp sau thầy nói tiếp:

- Vậy thì việc những con chí, con rận biến thành người cũng là một lối nói ẩn dụ. Ông Bàn Cổ không sinh đẻ ra loài người, nhưng những con vật dù nhỏ nhất, chẳng ra gì, nhờ sống trên người ông, thừa hưởng khí huyết, tinh thần, đạo lý và tư tưởng của ông, chúng đã trở thành loài người.

Một chiến sĩ đi bên cạnh nghe đến đó bất chợt thốt lên:

- À! Thưa thầy, con hiểu rồi… Loài người, nếu không có tư tưởng, không có đạo đức, luân lý, không có ý niệm tâm linh để duy trì cuộc sống cao đẹp, thì có khác gì những con chí, con rận… phải không thầy?

Mọi người nghe lời góp ý thì cùng ồ lên, bên cạnh cái ngạc nhiên hứng thú còn pha lẫn sự kính phục chân thành lời dậy của cha ông :

- Phải rồi! Nếu không thoát ra được cái thú tính thấp hèn thì con người khác gì loài chí rận!!”

ĐƯỜNG TA ĐI: Chương IV

Chương IV

VĂN MINH THẾ GIỚI

IV/1.- KHÁI NIỆM VỀ VĂN MINH THẾ GIỚI

Văn minh là kết quả của văn hóa, văn hóa là gốc của con người. Do đó, nói về văn minh tức là bàn về người. Bàn về người phải xét đến gốc ngọn của người. Vậy xin mời quý độc giả cùng chúng tôi lược qua một vài suy nghĩ của loài người trên thế giới khi họ nói về con người.

Từ các nhà hiền triết Ấn Độ thời cổ khi soạn kinh Upanishad đến các thần học gia Thiên chúa giáo hoặc giới nghiên cứu thuật luyện đan… đã nêu lên một số biểu tượng về con người khá giống nhau về sự tương ứng giữa con người và vũ trụ. Họ đồng thuận với nhau rằng sự vận động của con người có tác động tích cực lên các nguyên lý chi phối vạn vật trong thiên nhiên, nói chung là vũ trụ.

Họ cho rằng: xương bởi đá, bộ phận tiêu hóa bởi đất, máu và sự tuần hoàn bởi nước, phổi và hơi thở từ không khí, đầu và hệ thần kinh từ lửa. Con người tiếp xúc với vũ trụ qua ba cấp độ: mặt đất với đôi chân, không khí với nửa thân trên, trời với cái đầu. Người tham dự vào ba giới: khoáng vật, thực vật và động vật; bằng trí tuệ, bằng tinh thần và bằng thần linh. Cứ như thế, con người có vô tận những thế kết hợp. Tuy nhiên, đôi khi không tránh khỏi những kết hợp mang tính huyền hoặc hơn là biểu tượng của giới bùa ngải, bói toán hoặc phong thủy…

Đó là vài nét thực cô đọng chúng tôi xin tạm diễn đạt dựa vào sách vở đã được một số hiền triết Đông, Tây định nghĩa vào khoảng giữa thiên niên kỷ thứ II sau Công nguyên (Roberto Fludd Utriusque Cosmi Historia, Oppenheim, 1619)

Chúng ta thử về gần hơn với giải thích của một trí thức Việt Nam ngày nay: ông Lê Văn Đức trong Việt Nam Tự Điển gồm 2 cuốn lớn, tổng cộng hơn 3000 trang, đã định nghĩa về người như sau:

“Loài động vật hai chân, mình đứng thẳng, biết nói để tỏ ý muốn, dùng hai tay để làm mọi việc cần ích cho đời sống và tinh khôn hơn mọi loài khác trên trái đất”.

Theo ông Nguyễn Văn Đức, con người chỉ mới tinh khôn hơn loài vật theo kiểu con ngựa tinh khôn hơn con bò, con chó tinh khôn hơn con ngựa, con người tinh khôn hơn con chó!

Cách đây 2500 năm, ông Aristote còn nói được một câu văn minh hơn câu của ông Đức nhiều! Ông ấy nói: “Người là sinh vật biết suy lý”

Có điều, tại sao cả hai ông Đức và ông Aristote đều quên rằng ngoài cái tinh khôn, ngoài cái suy lý ra, con người còn có Lương tri, Tâm Linh, Tiềm thức cộng với Đạo đức, Luân lý và nhất là một lý tưởng cao đẹp để làm cho đời người đáng sống hơn! Chân thiện mỹ hơn?

Từ cổ chí kim, từ Đông qua Tây, thiên hạ bàn về Người kể có hàng vạn cuốn sách. Chúng tôi xin tóm lược vài nét chính để quý độc giả có khái niệm trước khi đi vào chủ đề.

Lịch sử văn hóa Tây phương cho thấy quan niệm về vũ trụ và con người thay đổi từng giai đoạn. Khởi đầu, từ rất lâu đời, là tin tưởng tuyệt đối vào thần minh và cho rằng, con người là nô lệ của thần minh:

Quan niệm duy thiên = duy thần

Kế đó, cách đây khoảng 2.500 năm, bắt đầu có những ý kiến chối bỏ thần minh và đề cao nhân bản, đặt con người nằm trong sự vận hành của vũ trụ:

Quan niệm duy địa = duy lý

Tuy nhiên, quan niệm duy địa chỉ mới khởi xướng đã bị dập tắt suốt một thời gian dài gần 2300 năm mới được hậu thế phục hoạt trở lại.

Triết gia Kim Định bàn về vấn đề này như sau: “…Cho nên thần thoại là một tấm gương phản chiếu khá trung thực tư tưởng của loài người khi chưa bị ngoại cảnh chi phối của mỗi nền văn hóa nguyên thủy. Nó chính là nhân sinh quan và vũ trụ quan của mỗi dân tộc”.

Căn bản của nền văn minh thế giới ngày nay xuất phát từ một số các nước sau đây: nước Ai Cập cổ đại, Mésopotamie, (vùng đất nằm giữa hai hai con sông Tigris và Euphrate còn gọi là Lưỡng Hà địa), Babilon, Hy Lạp, Do Thái, Ấn Độ và Đông Á (gồm các nước Trung Hoa, Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên…). Vậy trong phần mở đầu, xin mời quý độc giả điểm qua một số thần thoại đặc trưng.

(Chúng tôi cố gắng tóm lược thật rõ ràng, ngắn gọn hi vọng không làm rối trí và gây sự nhàm chán trước một số độc giả ít quan tâm về vấn đề này)

IV/2 .- VĂN MINH MIỀN MÉSOPOTAMIE VÀ THẦN THOẠI BABYLON

IV/2A .- Mésopotamie

Vùng đất Mésopotamie rất phì nhiêu, nằm giữa hai con sông nổi danh Tigris và Euphrate chảy song song từ bắc tây-bắc xuống nam đông-nam và đổ ra vịnh Persian (vịnh Ba Tư). Thời thượng cổ người ta gọi vùng đất này là địa đàng. Khu đông-nam gọi là Chaldée, khu tây-bắc gọi là Assyrie. Vùng này là chỗ gặp nhau của nhiều con đường giao thông đông, tây, nam, bắc nên nhiều dân tộc tranh nhau chiếm đoạt và nó trở thành nơi thị tứ văn minh khá rực rở thời cổ đại.

Khoảng 2500 tr.CN, dân tộc Sémite cường thịnh lên ở miền Chaldée, họ lập đô tại Babylon. Luật Babylon xử rất nghiêm với quý tộc nhưng lại thường khoan dung cho giới bình dân và nô lệ.

Khoảng 1000 năm sau, dân Assyrie diệt Chaldée, dày xéo Ai Cập rồi định đô ở Ninive. Họ đã có chiến xa bọc đồng, đặt trạm thông tin cho nhau…

Chẳng bao lâu sau đó họ lại bị người Babylon dưới sự lãnh đạo của vua Nabuchodonosor nổi lên tàn phá thành Ninive lạp lại đế quốc Babylon. Nhưng rồi Babylon lại bị vua Cyrus nước Ba Tư tàn phá… Hai xã hội Chaldée và Assyrie tuy cường thịnh không lâu dài nhưng họ rất văn minh và có nhiều đóng góp cho nhân loại.

Luật miền Mésopotamie khắc trên đá, xã hội có ba giai cấp: quý tộc, bình dân và nô lệ. Phụ nữ bình đẳng với nam giới và được tham gia công việc xã hội… Lâu đài, thành quách xây bằng gạch, cửa bằng đồng. Babylon có vườn treo, cung điện cực kỳ rực rỡ… Họ khá giỏi về khoa thiên văn. Thư viện có nhiều sách văn học, triết học, lịch sử, khoa học. Tuy nhiên, chữ viết của họ rất khó học và nhiều bất tiện nên không phổ cập trong dân chúng…

IV/2B .- Thần thoại Babylon:

Khi đó chưa có trời cũng chưa có đất nên gọi là Thái hoang (Tiamat). Thần Apsu pha nước vào Thái hoang Tiamat để sinh ra các thần tử, tôn, cháu, chắt… Dần dần các vật lớn lên và thành hình vũ trụ. Đột nhiên Thái hoang Tiamat giết hết các thần khác để độc chiếm vũ trụ. Nhưng Thái hoang vốn vô trật tự nên không cai trị được, khiến vũ trụ đảo lộn.

Bấy giờ có thần Marduk thổi một luồng gió cực mạnh làm bão rồi dùng vũ khí đẩy cơn bão vào miệng Thái hoang đang há ra chực nuốt Marduk. Bụng Thái hoang Tiamat phồng lên, Marduk liền đâm một nhát dao vào bụng, Thái hoang nổ tan tành. Marduk xẻo Tiamat làm hai mảnh, một miếng treo lên làm trời, một miếng trải ra làm đất.

Kế đó Marduk lấy đất sét nhào với huyết của mình mà tạo ra loài người với mục đích để phục vụ các thần. Lúc đó con người dốt nát như thú vật. Một thời gian sau có thần người cá dạy cho nghệ thuật, khoa học, xây thành, luật lệ… và cũng vì đó mà loài người phạm tội với các thần khiến các thần tức giận làm lụt hồng thủy để tiêu diệt nhân loại.

Có một thần tên là Ea thương loài người muốn duy trì loài người bèn giúp một dòng tộc đạo đức là gia đình ông bà Sahamashnapisthim. Thần dạy cho ông này đóng một tàu lớn. Khi hồng thủy dâng lên giết hết nhân loại thì ông Sahamashnapisthim đem cả gia đình lên tàu. Nhờ vậy gia đình ông khỏi chết và trở thành thủy tổ của nhân loại. Sau đại hồng thủy, các thần tưởng rằng loài người đã hoàn toàn bị hủy diệt nên hối hận và cãi nhau vì từ nay không còn người phục vụ họ nữa.

Khi nước hồng thủy rút thì tàu của gia đình ông Sahamashnapisthim mắc cạn trên đỉnh núi Nisir. Ông liền thả một con chim câu đi dọ thám tình hình. Khi biết nước đã rút, ông liền đem gia đình ra khỏi tàu và dâng lễ vật tạ ơn lên các thần. Các thần vô cùng kinh ngạc thấy loài người vẫn còn sống sót. Họ sung sướng nhận lễ vật của ông Sahamashnapisthim với lòng biết ơn và xúm xít bu lại quanh của lễ đông như đàn ruồi.

Từ thần thoại Babilon cũng gọi là văn minh Mésopotamie, chúng ta thấy con người vẫn do thần linh (Marduk) sinh ra để phục vụ họ và hầu hết các thần này đều là ác thần, vô đạo.

Những xã hội theo truyền thống thần minh này có những lễ, tục lệ cực kỳ dã man :

- Dân Mo-ap giết con trưởng nam để tế thần khi sắp ra trận. Sau khi thắng trận họ lại giết hàng ngàn kẻ địch để cảm tạ thần.

- Dân Assyrie săn bắt các dân tộc khác hoặc kẻ địch để tế thần Ashur (thần mặt trời).

- Dân Phénicien và dân Carthage mỗi năm thiêu sống hàng trăm trẻ em để tế thần Moloch.

- Người Trung Hoa thời quân chủ cũng có tục lệ giết người để tế cờ trước khi ra trận hoặc trả thù cho cha mẹ bằng cách giết kẻ địch và moi tim* trước bàn thờ.

* Tục moi tim kẻ địch để trả thù cho cha mẹ vẫn được tả trong các tiểu thuyết dã sử và kiếm hiệp Trung Hoa. Người Việt cũng bị ảnh hưởng, tuy nhiên thường chỉ tế cờ bằng trâu, bò trước khi tham chiến mà thôi. Thảng hoặc lắm mới có chuyện giết người trước bàn thờ tổ tiên như vua Gia Long đã giết các con của vua Quang Trung trước Thái Miếu, đào mả vua Quang Trung, cắt đầu để vào buồng xí còn xác thì giả nhỏ, trộn với thuốc súng bắn ra Biển Đông sau khi diệt được Nhà Tây Sơn. Chế độ cai trị và luật pháp của triều Thanh đã ảnh hưởng rất nặng lên triều Nguyễn.

IV/3 .- AI CẬP CỔ ĐẠI

Khởi đầu họ sống từng tiểu bang có dạng như tự trị, đại đa số tập trung vào hạ nguồn sông Nil. Vùng này gần biển, khí hậu mát mẻ, đất đai phì nhiêu. Đời sống dân chúng thoải mái.

Cho đến cách đây 5000 năm (chú ý: thời gian này ở Đông Á, Hiên Viên lãnh đạo các Hậu du mục Hoa tộc xâm lăng đất đai người Miêu) vua Ménès dùng sức mạnh quân sự thống nhất các tiểu bang và lập nước Ai Cập. Xã hội Ai Cập thịnh lên, chia thành nhiều cấp: quí tộc, giáo sĩ, công thương và nông dân. Giới nông dân bị đối xữ khắc nghiệt nhất, hầu như họ phải gánh vác tất cả mọi công việc của đất nước: đi lính, làm phu, xây dựng lâu đài, thành quách, đền thờ, Kim tự tháp, phục dịch giai cấp quý tộc và giáo sĩ…

Họ thờ nhiều thần, tin linh hồn bất diệt nên có tục ướp xác khi chôn cất hoặc xây Kim tự tháp. Đủ loại thần: thần thiện, thần ác, thần mặt trời, thần mặt trăng, thần bò, thần cá sấu… hai vi thần lớn nhất là thần sông Nil và thần Mặt Trời. Vua cũng là thần và được tôn thờ ngang hàng với thần sông Nil.

Họ biết dùng thuyền buồm, bánh xe, nấu thủy tinh, dệt vải rất mịn và đào kinh đưa nước vào ruộng. Kiến trúc, toán học (ký hiệu Pi:3.141605), làm lịch (365 ngày), tính giờ và chữ viết. Chữ viết, chữ số và toán học… của họ đã giúp rất nhiều cho sự tiến bộ của nhân loại ngày nay.

Vì thờ quá nhiều thần linh và thường xuyên bị áp bức, đày đọa liên tục của giới vua chúa, quý tộc, tăng sĩ… nên đại đa số nông dân nghèo đói, yếu đuối khiến dân tộc Ai Cập nói chung có tinh thần yếu hèn, chấp nhận thiệt thòi, dễ bị khuất phục. Do vậy Ai Cập thường xuyên bị nạn ngoại xâm tàn phá, đô hộ… đến độ về sau họ trở thành nhu nhược, quên đi gần hết văn hóa cha ông. Họ không đọc được chữ viết, không biết đến lịch sử, thơ văn, toán học… đã được tổ tiên họ ghi chép trong các đền thờ, hầm mộ, cung điện và những Kim tự tháp!

Vào thế kỷ 18, người Âu châu tìm được cách đọc chữ Ai Cập mà học được toán hình học và đại số học, lịch sử, văn chương, khoa học thiên văn… trong các Kim tự tháp, phần mộ, đền đài Ai Cập cổ đại… Có thể nói rằng, thế giới Tây phương văn minh lên mau chóng một phần nhờ sự phát hiện và tiếp thu kịp thời nền văn minh Ai Cập cổ đại cũng không phải là không đúng.

Người Ai Cập mưu cầu hạnh phúc bằng cách tựa hẳn vào thần linh là tự đặt mình vào vị thế vong thân vậy.

IV/4 .- HI LẠP CỔ

Cách đây khoảng 4000 năm, giống Hélène (Hi-Lạp) du mục, rất dã man, dơ dáy, tàn bạo… rời châu thổ sông Danuble (Đông Âu) di dân về phía Nam tìm đất sống. Họ chiếm bán đảo Grèce (xin đừng lộn với đảo Crète) và học được văn minh Grèce và Phénie mà trở nên văn minh, hùng cường hơn hẳn cha ông họ thủa trước. Tuy nhiên từ nhiều lý do, dân Hi Lạp cổ không thống nhất được mà lập ra nhiều thành phố tự quản và thường chống phá nhau.

Họ thờ rất nhiều thần : thần mưa, thần gió, thần núi, thần biển, thần tài, thần thể thao, thần văn chương, thần khoa học… cao nhất là thần Zéus (thượng đế) nắm quyền lãnh đạo các thần khác. Những vị thần Hi Lạp có nhiều đức, nhiều tật xấu y như loài người. Thần Zeus, cũng được gọi là thượng đế nhưng tính tình cũng đầy tham sân si y hệt con người.

Hầu như tất cả mọi người, khi có vấn đề đều tới các đền thờ, điển hình là đền Delphes, để xin ý kiến của thần linh như người Việt đến chùa, miểu xin xăm… Giai cấp quí tộc, tư tế, chiến sĩ, thương nghiệp… dành hết mọi quyền lợi và được nhiều ưu đãi trên giới bình dân và nô lệ. Tuy nhiên so với các dân tộc khác, đời sống dân Hi Lạp được coi là thoải mái. Bởi vì mọi việc gian khổ họ đều giao cho nô lệ quán xuyến cho đến cả những việc quan trọng như quản gia, chăm sóc đồng ruộng, dạy học, buôn bán, thư ký các văn phòng…

Thần thoại Hi-Lạp cho đến ngày nay vẫn còn ảnh hưởng rất mạnh trên thế giới, nhất là Âu châu và Mỹ châu. Câu chuyện như sau:

Thượng đế Uranos lấy Ga-Ea (thần đất) sinh ra các thần gọi là Titans. Các Titans tranh quyền cai trị với cha là thượng đế Uranos, nên Uranos tức giận giam các Titans vào Tartare (âm phủ). Mẹ Ga-Ea phản đối hành động tàn ác của cha Uranos bèn âm mưu với các Titans tìm cách giết cha. Một Titan tên là Kronos (thần Thời Gian) đứng ra đảm nhiệm việc này. Mẹ Ga-Ea liền trao cho Kronos một vũ khí có dạng lưỡi răng cưa.

Khi thượng đế Uranos đến thăm Ga-Ea có thần Trèbe hộ vệ, lúc hai thần đang âu yếm nhau thì thần Kronos xông đến đâm chết cha và dùng vũ khí có lưỡi răng cưa cắt thịt cha ra từng mảnh vất xuống đại dương. Máu Uranos chảy ra khắp nơi biến thành những thần Furies (thần Giận dữ). Những miếng thịt nổi lềnh bềnh trên đại dương bị sóng đánh nổi bọt biến ra các nữ thần Vénus (Aphrodite, thần Vệ nữ).

Hạ sát cha xong, thần Kronos cứu các Titans ra khỏi Tartare và kéo nhau lên núi Olympe chiếm ngôi Uranos (núi Olympe là ngọn núi cao nhất ở Hi-Lạp, kinh đô của thượng đế Uranos). Các Titans bèn tôn Kronos lên ngôi thượng đế. Kronos lấy chị Rhe-Ea làm vợ. Theo lời nguyền của Uranos trước khi chết, thì Kronos sẽ bị một trong các con chiếm mất ngôi, nên hễ nàng Rhe-Ea sinh đứa nào thì Kronos ăn thịt liền đứa đó. Tuy nhiên mẹ Rhe-Ea cũng dấu được một đứa tên là Zeus (Jupiter) trên đảo Crète.

Quả nhiên, khi lớn lên, Zeus truất quyền cha Kronos và bắt phải nhả các anh em mình ra, đồng thời Zeus đầy các Titans (chú, bác, cô, dì) xuống đất. Nhờ vậy mà trái đất bắt đầu có loài người.

Từ đó, thần Zeus làm chủ trời đất, đặt bản doanh trên núi Olympe. Thượng đế Zeus vốn hoang dâm, đêm nào cũng mò xuống vùng bờ biển Địa Trung Hải (Méditerranien) tìm gái trần gian. Cũng vì vậy mà trần gian có nhiều người có họ máu với thần minh, nhất là… người Hi-Lạp quý tộc. Các thần đều qui phục Zeus ngoại trừ bà vợ Zeus là bà Junon thì nhất định không phục. Bà Junon vốn là một nữ thần rất chua ngoa, đanh đá. Có lần Zeus giận bắt bà treo lơ lửng giữa trời, hai chân buộc hai núi đá cho nặng. Junon trả đũa cũng dữ dội không kém. Bà bắt trói cổ Zeus giam vào xó tối, may nhờ có thần Briarée lén vào mở trói cứu thoát.

Trong số các Titans bị đày xuống trần gian làm người, có người tên làTitan Japet sinh được một con trai là Prométhée. Một hôm thần Minerve xuống chơi trần gian thì gặp chàng Prométhée, thấy chàng thông minh, tuấn tú thì đem lòng thương mến. Khi trở về, Minereve liền đem chàng theo cho biết sự giàu sang của kinh đô Thượng đế Zeus trên núi Olympe. Lợi dụng cơ hội đó, Prométhée liền ăn cắp lửa đem về giúp trần gian bớt tăm tối. Chẳng may Thượng đế Zeus biết được, bắt Prométhée treo lên núi Caucase cho chim kên kên ăn gan. Sau 13 thế hệ, Prométhée được thả ra nhưng Zeus lại đeo vào tay chàng một chiếc vòng có miếng đá núi Caucase và gọi là vòng định mệnh (có nghĩa con người là nô lệ của thần minh và phải chết). Theo bản viết của Dies thì Prométhée có nghĩa là “tư tưởng nhìn xa” là một vị thần có khuynh hướng nổi loạn…

Dân Hi-Lạp mừng lễ Zeus rất long trọng, dâng cho ông ngày thứ Năm (Jeudi) còn kính Junon vào tháng Sáu (Juin). Thần Vệ nữ được kính vào thứ sáu (Vendredi). Mars vốn là thần chiến tranh được La-Mã chọn làm tháng Ba (Mars)… Ở Academie thì người ta thờ Prométhée và để nhớ ơn chàng đã mang lửa về cho trần gian nên đã có tục chạy đuốc từ núi Olympe đến nơi thi đấu thể thao. Ngày nay thế giới vẫn còn truyền tụng cảnh rước đuốc và châm lửa trong các lễ khai mạc Thế vận hội …

Thần minh Hi-Lạp đưa ra hai mẫu người mang hai vị thế khác nhau trong xã hội: Khởi đầu con người được sinh ra từ các Titans bị đầy. Kế đến là một mẫu người cao cấp hơn tức là dân tộc Hi Lạp và sau này là dân La Mã, được sinh ra do thượng đế Zeus và gái Địa Trung Hải. Hai dân tộc Hi Lạp và La Mã cho rằng mình có họ máu với thần minh, tự nhận là người tự do, có nhiều uy quyền trên các dân tộc khác gọi là người nô lệ. Tuy nhiên, cả người tự do lẫn nô lệ đều phải lệ thuộc thần minh, phải tế lễ, phụng sự thần minh.

Con người của văn hóa Hi Lạp và La Mã vong thân từ khởi điểm của thần thoại này.

IV/5.- THIÊN CHÚA YÉHOVA VÀ DÂN TỘC ISRAEL

Dân Israel, Do Thái, có tên cổ là Hébreux và thiên chúa Israel có tên là Yéhova cũng gọi là Yahvé. Yéhova có tự vô cùng và tồn tại đến vô cùng, thông minh sáng láng, biết trước mọi việc, quyết định mọi sự trên trời dưới đất… Jéhova sáng tạo và cai quản vũ trụ với nhiều thiên thần hầu hạ.

Thiên thần tổng thủ lãnh là Luciphe cấu kết với một số thiên thần nổi lên làm loạn, dành ngôi thiên chúa. Các thiên thần trung thành, đứng đầu là Michael chống lại Luciphe, tạo thành một cuộc đại chiến làm chấn động các tầng trời. Cuối cùng nhóm Luciphe thảm bại, bị loại ra khỏi thiên đường. Tuy nhiên, chúng vốn là thiên thần có nhiều quyền năng, sự hiểu biết và có đời sống bất diệt nên Yéhova không thể hủy diệt hay bỏ tù chúng được. Từ đó chúng trở thành quỷ dữ luôn luôn tìm cách chống đối thiên chúa

Kế đó, Yéhova dựng lên trời đất, tinh tú, biển rộng, cây cối và muôn thú trong năm ngày. Ngày thứ sáu ngài lấy đất sét nắn thành hình tượng giống mình rồi hà hơi vào, tạo ra ông Adam, lại lấy xương sườn Adam đắp đất tạo ra Eve, đó là hai thủy tổ nhân loại. Thiên chúa Yéhova cho hai người ở vườn Địa đàng (khoảng giữa hai dòng sông Euphrate và Tigris vùng đất này ngày nay thuộc nước I-Raq). Đó là một khu vườn tuyệt diệu đầy đủ cây trái và muôn thú. Thiên chúa Yéhova cho hai ông bà xử dụng tất cả nhưng lại cấm hai người không được ăn trái của hai cây rất đặc biệt ở giữa vườn, gọi là trái cấm. Một cây có tên “Biết lành biết dữ” có nghĩa là hiểu biết và thông suốt mọi việc thiện ác. Một cây có tên “Sống muôn đời” có nghĩa ăn trái cây ấy sẽ sống mãi, bất diệt (thiên chúa và các thiên thần lẫn quỷ dữ đều đạt được hai yếu tố: Biết lành biết dữ và sống muôn đời cộng thêm bản năng sẵn có)

Một hôm, Eve bị quỷ (thần Luciphe) lấy hình một con rắn dụ dỗ ăn trái cấm cây “biết lành biết dữ” sẽ thông minh, thông suốt mọi vấn đề y như thiên chúa. Eve nghe bùi tai, ăn và đưa cho Adam cùng ăn. Liền khi đó, họ trở nên thông suốt mọi vấn đề. Thiên chúa biết được, giận dữ đuổi hai ông bà ra khỏi vườn Địa đàng. Chẳng những thế, họ bị phạt sẽ phải khổ sở để kiếm sống và phải chết. Eve phải chịu thêm nỗi đau đớn lúc sinh đẻ. Hình phạt này con cháu muôn đời phải gánh, gọi là tội tổ tông. Thiên chúa lại đặt một thiên thần tên là Chérubim cầm gươm lửa canh giữ vườn địa đàng vì sợ hai ông bà có thể trở lui ăn trái cây sống muôn đời : “E chúng nó sẽ bằng ta chăng”.

Nhiều ngàn năm sau, loài người sinh sôi đông đảo, không còn nhớ tới Yéhova và gây nhiều điều tội lỗi liền bị thiên chúa làm lụt hồng thủy, hủy diệt toàn thể nhân loại, chỉ chừa gia đình ông Noe là được cứu sống (chuyện ông Noe đóng tàu tị nạn hồng thủy gần giống chuyện Sahamashnapisthim đóng tàu của thần thoại Babilon). Từ gia đình ông Noe nhân loại lại sinh sôi nẩy nở lan tràn khắp mặt đất.

Nhiều chục ngàn năm sau nữa (khoảng năm 1500 tr. CN), thiên chúa Yéhova lập giao ước với một người tên Abram ở Chaldé như sau: con cháu Abram sẽ sinh đẻ đông đúc như sao trên trời, như cát dưới biển; Abram và con cháu đời đời được thiên chúa phù trợ để trở nên giàu có, được hứa ban cho toàn vùng đất Ả Rập từ sông Euphrate đến biển Địa Trung Hải và từ Biển Đỏ đến núi Liban. Đổi lại, Abram và con cháu phải đời đời phụng thờ Yéhova với những lề luật do Jéhova ấn định, phải thi hành mọi ý muốn của Yéhova qua các ngôn sứ còn gọi là tiên tri và không được thờ bất cứ một thần nào khác. Sau khi giao ước, thiên chúa Yéhova liền đổi tên của Abram thành Abraham, có nghĩa người đã giao ước.

Dân Do Thái là con dòng vợ chính của Abraham nên được tách riêng để thi hành giao ước. Một số rất đông các dân tộc Ả Rập khác cũng thuộc máu mủ của Abraham nhưng là dòng phụ nên không tính. Dân Do Thái vốn hiếu chiến, ăn gian nói dối, xử sự cực kỳ tàn độc nên bị chính các dân tộc bà con của họ căm ghét, hận thù hầu như muôn đời.

Khi dân Do Thái thịnh vượng thì thường quên giao ước, cưới vợ ngoại giáo và thờ lạy các thần linh của các dân tộc lân cận nên bị Yéhova hành phạt vô cùng nặng nề. Khi họ khổ quá, cầu xin tha tội và làm những lễ toàn thiêu chiên, bò cực kỳ tốn kém thì được thiên chúa tha thứ và cứu giúp. Họ đánh bại quân thù, xây dựng lại non nước, đền thờ. Suốt 3.500 năm (từ năm 1500 tr.CN đến 1946), lịch sử Do Thái là một thiên bi hùng ca liên tục.

Trong toàn bộ kinh Cựu ước, nhiều lần, chính thiên chúa Yéhova tự nhận mình là một vị thần dễ nổi nóng, hay ghen tị, hay thù dai, hay hờn lẫy, hoặc bỏ mặc không thèm đếm xỉa đến dân Do Thái nữa… những khi ấy Yéhova xúi các dân tộc khác “hành” dân Do Thái chết bỏ. Tuy nhiên Yéhova cũng dễ cảm động trước những lời cầu xin tha thứ. Ngài lại ban ơn, giúp đỡ phù trợ dân Do Thái rất nhiệt tình. Nhiều lần ngài hứa hẹn với dân Do Thái… nghe đã lỗ tai vô cùng.

Khi thương thì Yéhova thiên vị Do Thái đến độ coi các dân tộc khác còn tệ hơn cả con giun con dế. Yéhova kỳ thị và cực kỳ tàn độc với các dân tộc khác không còn một chút gì gọi là nhân đạo. Chẳng hạn ngài ra lệnh cho Do Thái khi chiếm được thành nào của dân ngoại thì phải “tru hiến” (tàn sát để hiến dâng) nghiã là giết hết nam, phụ, lão, ấu kể cả đàn bà mang thai, cho đến cả dê, bò, ngựa, chó, gà… Phá bình địa nhà cửa, thành quách, đền đài… không được bỏ sót một thứ gì ngoài mặt đất trống trơn, dù họ có cùng huyết thống và chẳng thù oán gì với dân Do Thái cả!

Tuy nhiên, Do Thái sau gần 1.500 năm lập quốc (kể từ năm 1500 tr.CN đến năm 70 s.CN) vẫn kỳ còm trong giải đất Palestin tí xíu, với 2/3 là sa mạc, với nội chiến và chiến tranh cùng khắp các dân tộc láng giềng hoặc làm nô lệ hết nước này qua nước khác hầu như không bao giờ chấm dứt. Và cuối cùng, năm 70 họ bị người La Mã đuổi ra khỏi tổ quốc làm kiếp tha hương gần 2000 năm. Từ đó dân Do Thái lưu vong trên khắp thế giới, đi tới đâu họ cũng bị các quốc gia địa phương kỳ thị, xua đuổi, hạn chế việc làm và nhất là đổ lên đầu họ đủ thứ tội: tội giết chúa, tội nguyên nhân gây ra các bệnh dịch tả, dịch hạch, hạn hán, lụt lội, giúp nước thù địch, gián điệp… Họ tràn vào những khu Do Thái cư ngụ tàn sát, hảm hiếp, cướp bóc, xua đuổi dân Do Thái cực kỳ dã man! Điển hình, từ năm 1938-45 dân Do Thái bị quốc xã Đức thủ tiêu trên bốn triệu người trong các lò thiêu.

Năm 1946, đế quốc Anh làm ngơ cho nhiều nhóm Do Thái trở về mua đất lập làng trên quê hương cũ và cuối cùng hội Quốc liên chấp nhận cho họ đôc lập 1947. Vừa tuyên bố độc lập họ bị các nước Ả Rập trong toàn vùng liên minh tấn công trước sau 3 cuộc chiến tranh tàn khốc. May mắn họ được các nước Tây phương trợ lực vô cùng tích cực. Cả ba cuộc chiến tranh họ đều chiến thắng lẫy lừng và bảo vệ được nền đôc lập. Dù thế, cho đến nay họ vẫn không sống yên ổn được vì các dân tộc Ả Rập không chấp nhận sự hiện diện của họ trên vùng đất Ả Rập.

Đó là sơ lược sự liên hệ giữa thiên chúa Yéhova và dân tộc Israel. Phải chăng, dù dựa vào vị thần minh oai hùng nhất vũ trụ hay cường quốc hùng mạnh nhất địa cầu mà bản chất vong thân thì hạnh phúc dẫu có cũng chỉ chập chờn như gió thoảng, mây trôi?

IV/6 .- NHỮNG TÔN GIÁO THỜ ĐỘC THẦN

Từ năm thứ 30 sau CN, tại Israel, một người Do Thái tên là Jésus dựa vào kinh điển Do Thái giáo cổ rao giảng một giáo lý mới. Đạo mới cũng thờ thiên chúa Jéhova nhưng cổ vũ triết lý bác ái và sống thánh thiện để được hưởng ơn cứu độ. Năm 33, ngài bị bọn tư tế của Do Thái giáo cấu kết với nhà cầm quyền La Mã giết chết trên thập tự giá.

Theo Tân ước thì ba ngày sau ngài sống lại, tiếp tục giáo huấn môn đồ thêm 40 ngày và về trời. Các môn đệ của ngài tiếp tục truyền bá đạo ngài trên toàn đế quốc La Mã và xưng là đạo Kitô. Đạo Kitô khởi đầu lan truyền ở Trung Đông, Bắc Phi châu và các thị trấn trong phạm vi đế quốc La Mã… Trong giai đoạn này, đạo chỉ hoạt động trong phạm vi tôn giáo. Các vua chúa La Mã nhận thấy Kitô giáo chủ trương con người ngang nhau trước mặt thiên chúa, nhiều điều trong giáo lý đụng chạm đến quyền lợi nhà vua và giai cấp quý tộc nên quyết định cấm đoán và truy diệt rất dã man. Tuy nhiên, đến thế kỷ thứ 3, đạo Công giáo được đế quốc La Mã thừa nhận và giúp đở, nhờ đó đạo phát triển rất mạnh khắp Âu châu và thế giới.

Đầu thế kỷ thứ 5, đế quốc La Mã chia làm hai đế quốc: đông La Mã và tây La Mã. Đạo Công giáo cũng bị ảnh hưởng, chia thành hai: giáo hội phương Đông và giáo hội phương Tây. Tuy nhiên khi cả hai đế quốc đông, tây La Mã kế tiếp nhau sụp đổ thì hai giáo hội này vẫn liên tục kình chống nhau cho đến ngày nay.

Từ sau năm 555, chiến tranh giữa các tộc, các rợ ở Âu châu chống lại đế quốc La Mã để dành độc lập xẩy ra triền miên, giáo hoàng Grégoire Le Grand lãnh đạo giáo hội phương Tây (đại giáo hoàng 590-604) dùng uy thế tôn giáo, thành lập quân đội, xây dựng nhiều nhà thờ, cung điện và nhiều tu viện (những tu viện này có giá trị như những pháo đài), can thiệp thường xuyên vào phạm vi thế quyền… Từ đó uy quyền của giáo hội phương Tây vươn ra khắp châu Âu và gọi là Công giáo La Mã do giáo quyền Công giáo chọn Vatican (Rome) là thủ đô.

Đầu thế kỷ 7, ở La Mecque và Médine Trung Đông, Mahomet xưng là tiên tri cuối cùng của thiên chúa Jéhova (thiên chúa Do Thái) nhưng ông gọi là đấng Allah, lập đạo Mahomed. Đạo Mahomed lan tràn mạnh trong người Hồi (Hồ) nên cũng gọi là đạo Hồi hay Hồi giáo. Giáo lý Mahomed pha trộn giữa hai tôn giáo Do Thái giáo, Kitô giáo và một số truyền thống đặc thù của các dân tộc du mục sống trên sa mạc, khá giản dị. Ông chủ trương vừa mời gọi vừa hù dọa, khi cần ông cũng không từ chối chiến tranh gọi là thánh chiến để áp đặt tôn giáo mới lên các dân tộc quanh vùng.

Trong suốt các thế kỷ thứ 7, 8, 9 đạo Mahomed phát triển liên tục. Hầu như toàn bộ Trung Cận Đông cùng một số nước ở Âu châu, Á châu và Đông Á quần đảo nằm trong ảnh hưởng đạo Mahomed. Nền văn minh Hồi giáo trong nhiều thế kỷ vươn lên một đỉnh cao tuyệt vời gồm chính trị, xã hội, văn chương, nghệ thuật, y học, toán học, thiên văn, trồng tia, kỹ nghệ…

Vào đầu thế kỷ 11, một dân tộc theo đạo Mahomed gọi là người Thổ Seljoucides chủ trương dùng thánh chiến để mở rộng biên cương Hồi giáo. Từ Tân Cương họ tràn tới tiêu diệt Ba Tư, chiếm Hi Lạp, Syrie, Jérusalem, sát hại tín đồ công giáo, hăm dọa Constantinople.

Năm 1095, phía Công giáo La Mã vận động các nước Âu châu tổ chức nhiều đạo binh Thập Tự Quân vượt biển Địa Trung Hải tấn công Hồi giáo. Cuộc thánh chiến này phía Tây phương dành lại được vài phần đất, quan trọng nhất là vùng Jérusalem. Tuy nhiên, phía Hồi giáo cũng chống cự vô cùng dũng cảm. Hai bên khi được khi thua giằng co mãi đến năm 1270 thì phía Âu châu kiệt quệ khiến họ phải bị ngưng lại. Phía Hồi giáo cũng dần dần phân hóa thành nhiều hệ phái chống phá nhau.

Vào thế kỷ 16 -17, phía Công giáo La Mã có nhiều phong trào cải cách khiến đạo này chia thành nhiều phái: Công giáo, Tân giáo. Tân giáo lại chia làm hai: phái Luther và phái Calvin. Chia rẽ tôn giáo gây ra chia rẽ chính trị và tạo thành những cuộc chiến tranh giữa các nước Âu châu hoặc nội chiến.

Nói chung, tiếp theo Do Thái giáo với thiên chúa Jéhova bắt đầu từ thời thượng cổ, là các tôn giáo mới (từ năm 0033 trở về sau) thờ độc thần : giáo hội Công giáo, giáo hội Đông phương, giáo hội Chính thống, giáo hội Anh Quốc, Hi-Lạp, hàng trăm giáo hội Tin Lành và các hệ phái Hồi giáo… đang là một cộng đồng tôn giáo quan trọng trong đời sống nhân loại ngày nay. Tuy nhiên, hầu như họ không thể ngồi lại với nhau được dù thờ cùng một vì thiên chúa.

Từ nhân sinh quan thiên chúa giáo của Do Thái cổ, chúng ta vẫn thấy con người chưa thoát ra được những hệ lụy của tính vong thân vì vẫn phải run sợ, vẫn phải nương tựa, phải cầu xin sự cứu độ nơi thần linh…

IV/7 .- NGƯỜI TRONG VĂN HÓA ẤN ĐỘ

Trước năm 1200 tr.CN, các dân tộc bản thổ tại Ấn Độ đã có nền văn hóa gọi là văn hóa Dravidian. Sau đó là nền văn hóa ngoại xâm gọi là Aryian vùi dập Dravidian mà thay thế. Từ Phật Thích Ca xuất hiện vào khoảng năm 600 tr.CN cho đến ngày nay thì văn minh Ấn Độ chuyển dần thành sự kết hợp giữa hai nền văn hóa cổ xưa nói trên. Tuy nhiên, văn hóa ngoại xâm Aryian tại Ấn Độ luôn luôn làm chủ tình thế.

Văn hóa Dravidian hướng về nhân bản tâm linh mang tầm vóc vũ trụ. Linh hồn gọi là Purusa, xuất phát từ thần Prajapati cũng gọi là Brahma tức là chúa tể vũ trụ. Prajapati đã tự hóa thân thành Purusa đại ngã (nói một cách khái quát: đại ngã là sự thành đạt tuyệt đối về thể xác cũng như tinh thần. Với Phật giáo là thoát khỏi kiếp luân hồi, với Công giáo là bậc thánh, với Nho thì là người quân tử…). Cứu cánh của văn hóa Dravidian là phải đạt được đại ngã để trở về với Prajapati, chúa tể vũ trụ và Yoga là phương pháp để đạt thành đại ngã. Đó là nhân bản toàn diện; cũng vì thế mà văn hóa Dravidian bị quan niệm thần minh của văn hóa Aryian đàn áp.

Khoảng năm 1200 tr.CN, một nhánh thuộc giống Ấn Âu (Ariyan) từ phía Đông biển Caspienne tiến về Nam. Một phần lập quốc tại cao nguyên Iran (Ba Tư). Phần còn lại xâm lăng Ấn Độ của cư dân Dravidian. Họ lập ra cả ngàn tiểu quốc. Họ đàn áp dân tộc Dravidian và hủy diệt văn hóa của dân tộc này. Người Aryian lập đạo Bàlamôn làm quốc đạo, xã hội chia thành 4 giai cấp: quý tộc, tu sĩ, chiến sĩ, và nông-thương. Thổ dân Dravidian không được kể tới nên gọi là vô loại (padi). Họ bị tội đổ chì vào lỗ tai nếu bị bắt khi đang nghe lén tu sĩ Bàlamôn đọc kinh. Các chế độ tiểu quốc ở Ấn Độ và cách đối xử cực kỳ dã man với người Dravidian tồn tại mãi cho đến cuối thế kỷ 19 mới được người Anh bãi bỏ.

Quan niệm thần minh của người Aryian hướng về cứu độ, đặt nặng linh hồn mà khinh bỏ thể xác, ngược lại với quan niệm tiến hóa toàn diện vừa thân xác vừa tinh thần của Dravidian. Chính sự mâu thuẫn này mà văn hóa của kẻ bị mất nước Dravidian phải chìm vào bóng tối gọi là “đạo kín”, họ tu trong rừng sâu ở các hốc núi, gốc cây…

Tuy nhiên văn hoá Dravidian vẫn được nhiều người ái mộ, kể cả những quý tộc Ariyan. Họ tu học “đạo kín” Dravidian trong rừng sâu. Năm 563 tr.CN, đức Thích Ca Mâu Ni cỡi bỏ giai cấp quý tộc của mình, vào rừng tu theo “đạo kín” này. Sau 49 ngày đêm ngồi thiền định dưới một gốc cây bồ đề, ngài cải sửa, hoàn chỉnh tư tưởng và nguyên tắc hành đạo của đạo này thành một triết lý uyên thâm. Đạo Phật phát sinh từ đó.

Đạo Phật cũng giống Kitô giáo, không phát triển được ở quê hương vì bị giới tu sĩ đạo Balamôn đang thịnh hành hợp với chính quyền địa phương chống phá, tàn sát… Phải phát triển ra các nước láng giềng. Phải chăng nhờ vậy mà Phật giáo và Công giáo mang tính cách thế giới?

Nếu so với nền văn minh Trung Hoa ngày nay thì văn hóa kẻ xâm lăng là Hoa tộc vốn rất lu mờ trước văn hóa sáng chói của các dân tộc bị xâm chiếm (Miêu tức Viêm còn gọi là Bách Việt). Sự kiện trên khiến văn minh Trung Hoa mang dấu ấn: kẻ xâm lăng đóng dấu quốc tịch Trung Hoa lên các giá trị tư tưởng của cư dân bản xứ. Cái dở của Hoa tộc là không có can đảm nhìn nhận nền văn hóa mang dấu môc kia là của dân bản địa mà còn lật lọng gọi cư dân bản xứ là “man di”, “Nam man”. Quả thật, họ thua xa du mục Aryian Ấn Độ về mặt thành thật ngoại trừ đức Khổng Phu Tử.

Chúng ta tạm ngưng tìm hiểu các nền văn minh loài người để xem vào khoảng năm 500 tr.CN phương Tây và Trung Á nghĩ gì về thần minh.

IV/8 .- SUY TƯ CỦA CÁC TRIẾT GIA HI LẠP CỔ

Giữa thế kỷ thứ V trước CN, giới trí thức trong các đại học Hi Lạp đã có những suy tư về thân phận con người đáng cho thế giới ngày nay khâm phục.

Họ cho rằng vạn vật trong thiên nhiên đều do những nguyên tử kết hợp lại mà thành. Chẳng những thế, có những người sáng suốt, nhận ra cái sai lầm của thời đại, đó là những triết gia tiên khởi của Tây phương như Socrate và các học trò của ông: Platon, Antisthène, Aristippe. Họ lập ra phép luận lý được nhiều người trọng vọng. Từ phép luận lý, họ khai mở nhân bản bằng khẩu hiệu: “Hãy tự nhận thức giá trị bản thân mình”. Cũng từ đó họ suy ra đạo đức học : “Con người có những hành động xấu xa chỉ vì người ta không biết và cũng không ai tự nguyện làm kẻ độc ác”.

Chúng ta sẽ thấy từ những nhịp cầu tư tưởng của Socrate và nhóm học trò của ông… sẽ giúp Aristote (học trò của Platon) bước mạnh tới một chủ thuyết: “Người là một sinh vật biết suy lý” sau này.

Socrate không để lại một tác phẩm nào, phải chăng khi ông bị ép phải uống thuốc độc chết, chính quyền và giới tư tế Hi Lạp đã thủ tiêu sách của ông? Tuy nhiên, Platon viết cuốn “Chế độ Cộng Hòa” để tả một chính thể lý tưởng, thì vẫn còn tồn tại.

Học trò của Platon là Aristote (384-322 tr.CN), thầy dạy của Alexandre Đại đế, tiếp tục tiến tới sau khi “đi qua chiếc cầu” của những người đi trước. Ông đặt vấn đề về giá trị con người trước thần minh. Ông lý luận sự tồn tại khách quan của thế giới vật chất đồng thời coi cảm xúc, tư tưởng và khái niệm đều xuất phát từ các vật thể thực tại, mà ông nhận thấy nằm ngay trong mỗi bản thân. Chủ thuyết “Con người là một sinh vật biết suy lý” thành hình và là một bước tiến mới của tri thức con người trước cái mênh mông huyền bí của vũ trụ. Dù vậy Aristote đã không đả động gì đến chế độ nô lệ đang là một thực tại thê thảm khác hiện diện trước mặt ông mỗi ngày. Phải chăng triết lý nhân bản chỉ dành cho mẫu người có vũ khí trong tay? Hay ông đã gặp sự phản ứng từ phía chính quyền và tôn giáo? Bởi đó, chủ thuyết của Aristote đã tạo cơ hội cho Tây phương thế kỷ 17, 18 tiếp tục chối bỏ giá trị “nhân bản của giới nô lệ” cho đến thế kỷ 19.

Nền triết học nhân bản Hy-Lạp vừa được khai sinh chưa được bao lâu thì bị quật ngã vì ba lý do:

1.- Chính quyền và giai cấp tư tế Hi Lạp xưa nay vẫn dựa vào nhau để cai trị và hưởng những đặc quyền, đặc lợi. Nay có kẻ chống phá có thể nguy hại đến quyền lợi của mình, lẽ dĩ nhiên họ phản ứng. Kết quả, Socrate bị ép uống thuốc độc chết tại trường đại học và thế hệ sau đó, Aristote, cũng phải giả điên…

2.- Giới chủ trương nhân bản hầu như chỉ hạn hẹp trong thành phần trí thức, trưởng giả chứ không phổ cập trong đại chúng.

3.- Sự xuất hiện của một số tôn giáo mới mang nhiều nhân tính mà hầu hết xuất phát trong vùng Cận Đông.

Giữa thế kỷ IV tr.CN, nhóm hậu sinh của nhà triết học cổ Antisthène, người sáng lập chủ thuyết Cynic mà người nổi danh nhất là Diogènes. Họ phê phán mạnh mẽ đường lối của Platon về các tư tưởng chủ đạo của chủ thuyết duy tâm khách quan. Họ cho rằng con người chỉ có thể hạnh phúc và đạo đức khi đoạn tuyệt với giàu sang, quyền lực và thú vui xác thịt. Con người cũng không nên lấy làm trọng các luật lệ của xã hội. Họ chủ trương từ bỏ mọi hình thức thờ phượng trong lễ nghi tôn giáo.

Từ cuối thế kỷ IV đến III tr.NC, một nhóm triết gia, đứng đầu là Zénon, lập ra thuyết khắc kỷ (dằn sự ham muốn) gọi là chủ thuyết Stoycien. Họ chủ trương cần phải sống cho phù hợp với tự nhiên vì đấy là lý tưởng của kẻ trí thức, của hiền nhân thực sự. Thoát ly ra khỏi những dục vọng, là đạt được thanh thản tâm hồn, là hạnh phúc của con người…

Vào những năm đầu kỷ nguyên thứ I, chủ nghĩa khắc kỷ bắt đầu phát triển trong phạm vi đế quốc La Mã. Chủ nghĩa được bổ sung thêm, chủ yếu là những tư tưởng thuộc về đạo đức và tôn giáo…

Trở lại vấn đề các tôn giáo mới xuất hiện trong khoảng thế kỷ thứ VI tr.CN trở lại:

1 – Nguyên vào thời gian này ở các nước Cận Đông xuất hiện một số tôn giáo mới, thích hợp với đa số đại chúng và nô lệ hơn là các thần thoại cổ, điển hình là của Ai Cập, Hi Lạp, La Mã và Mésopotamie. Trước hết là đạo Dionisos xuất hiện Sicily ở phía Nam nước Ý cuối thế kỷ thứ VI tr.CN được mọi người xưng tụng là đấng Cứu thế con Thiên chúa Jupiter (Zeus).

2 – Xứ Capodo có đạo thờ nữ thần Ma, về sau đạo này tràn qua Ionie, La Mã và một số các nước khác. Người ta tin rằng, nếu tự hoạn hoặc hủy hoại một vài cơ phận trong cơ thể như tai, mắt, tay, chân… thì xin gì cũng được nữ thần Ma ban cho.

3 – Nữ thần Isis được tôn xưng là thánh mẫu Isis của Ai Cập được truyền bá rất rộng và phát triển nhanh chóng nhiều nơi ở Châu Âu nhờ đạo này đưa ra hình ảnh bà mẹ đau thương, lân tuất và an ủi kẻ ưu phiền… đáp ứng trực tiếp vào niềm hi vọng của con người hơn. Người ta gọi thánh mẫu Isis là Sao biển, Nữ vương trên trời, Mẹ Thiên chúa… Chồng của Isis là Osisris được tổ chức mừng lễ sống lại vô cùng trọng thể. Con của họ là Horus mà trong các bức tượng điêu khắc người ta thường thấy mẹ Isis bồng trên tay.

Đạo Isis được dân nghèo và dân nô lệ đón nhận mau chóng nhờ câu chuyện rất cảm động, lễ nghi tinh luyện, ca nhạc du dương, không phân biệt quốc tịch, sang hèn, đẳng cấp. Từ Ai Cập đạo Isis mau chóng tiến sang Sicile, La Mã, các nước quanh Địa Trung Hải và Tây Âu như Pháp, Ý, Tây Ban Nha,Hi-Lạp, Thổ Nhỉ Kỳ, Thụy Điển, Phần Lan, các nước ở Bắc Phi… rất mạnh, đến nay vẫn còn nhiều cộng đồng dân chúng duy trì thờ phượng …

IV/9 .- VĂN MINH TÂY PHƯƠNG HIỆN ĐẠI

Lịch sử thế giới đến thế kỷ 17-18 thì mọi di sản của thời trung cổ để lại ở Tây phương đều bị kích bác, loại bỏ. Những kẻ bảo tồn, binh vực các di sản ấy có thể bị khủng bố, diệt trừ như trước kia tôn giáo pháp đình* của tòa thánh La mã đã khủng bố và diệt trừ những người có tinh thần khoa học và tư tưởng mới vào giữa thế kỷ 16 vậy”.

* Tôn giáo pháp đình do giáo hội Công giáo La mã lâp ra từ lâu nhưng hoạt động rất hạn chế trong phạm vi tín lý. Năm 1542, giáo hoàng Paul III cổ vũ dùng tôn giáo pháp đình để bài trừ tự do tư tưởng. Các giáo sĩ dòng Dominicain được bổ nhậm làm pháp quan và sai đi khắp nơi lập tòa án luận tội và kết án những người đề xướng tư tưởng khác biệt với giáo hội hoặc giới chủ trương cải cách hoặc bất tuân lệnh của tòa thánh… bằng những tội rất nặng có thể bị xử tử hình, hỏa thiêu, tù đày…

Giáo hoàng Paul IV (1559-1565) ra lịnh khủng bố triệt để những kẻ tình nghi có tư tưởng tà giáo. Tôn giáo pháp đình còn tràn qua lãnh vực khoa học và triết học. Bắt đầu từ năm 1559 tôn giáo pháp đình tổ chức các cuộc đốt sách, báo, tài liệu… khác biệt với quan điểm Thiên chúa giáo. Họ buộc tội các khoa học gia, triết gia, nhà văn không tuân theo lập luận của tôn giáo là tà giáo, là phù thủy và thiêu sống họ vô cùng dã man!.

Tôn giáo pháp đình được giai cấp thống trị tiếp đón nhằm dựa vào thế lực tôn giáo để đàn áp các nhóm lý thuyết cách mạng đang làm đảo lộn trật tự xã hội mà họ đang thống trị.

Thế lực tôn giáo cấu kết với nhà cầm quyền đè nặng lên cộng đồng dân chúng mà sự cách biệt quá lớn tạo thành mâu thuẩn xã hội vô cùng gay gắt. Những nhà tư tưởng, học giả xưa nay vẫn là những người nghiên cứu sách vở Hi-Lạp cổ với Socrate, Platon, Antisphen, Aristote, Zénon, Diogènes… tạo thành những phong trào chống đối mỗi ngày một lan rộng. Những cuộc hội họp nhỏ kiểu phòng trà (salon) bàn thảo những vấn đề tranh đấu cho tự do con người và gọi là cổ điển nhân văn* nhưng xây dựng trên nguyên tắc duy nhân** . Đỉnh cao của giai đoạn chuyển hướng đã đến vào thế kỷ 17 và18 với những cuộc cách mạng tại Pháp mới thật sự chín muồi trong việc xóa bỏ quyền lực tôn giáo và các sử gia gọi đây là thời kỳ Phục hưng.

* Nhân văn (humanities), những luận thuyết, bình luận, triết lý các vấn đề liên quan tới đời sống và giá trị con người. Chẳng hạn, tài liệu quý bạn đang đọc là một chủ đề Nhân văn.

** Duy nhân (anthropologie), chỉ chú trọng tới người, tất cả mọi vấn đề trong xã hội đều phải phụ thuộc vào người. Người là một thực thể riêng rẽ cộng thêm lý trí chứ không liên hệ gì đến trời đất. Tín ngưỡng tâm linh, đạo đức, luân lý, luật pháp, truyền thống… chỉ là thứ yếu hoặc không cần đếm xỉa đến. Duy nhân rất gần với hiện sinh. (xin xem hiện sinh được đề cập ở phần dưới)

Tuy nhiên, Darwin, Hobbes, Hegel… vẫn cứ biện minh cho việc chiếm đoạt và bóc lột các dân tộc nhược tiểu kể cả duy trì chế độ nô lệ. Các cuộc cách mạng tại Pháp cũng mở màn cho sự chối bỏ quyền lực của giáo hội Công giáo La Mã trên chính quyền các nước Âu châu. Kể từ đây, giáo hội Công giáo chỉ hoạt động trong phạm vi nhà thờ mà thôi.

IV/10 .- KHOA HỌC VÀ TÔN GIÁO

IV/10A .- Khoa học và tôn giáo hòa hợp đượckhông?

“Khoa học không có tôn giáo thì què quặt,
Tôn giáo không có khoa học thì mù lòa”
.–

Albert Einstein

“Phải chăng, hiểu cách chính xác nhất, tôn giáo là bệnh truyền nhiễm của lý trí?”

Nhà sinh vật học Richard Dawkins.

Trên đây là hai lời bình luận điển hình của các khoa học gia thuộc hai phe chống đối nhau trên thế giới ngày nay. Tôn giáo, thể hiện sắc thái tâm linh, tín ngưỡng. Khoa học, thể hiện các tính toán của suy lý. Đôi khi hai giới này được xem là những tử thù của nhau. Đối với một số người, hai phạm trù này dường như đã bị khóa chặt trong một trận chiến một mất một còn. Như vậy, liệu khoa học và tôn giáo có thể hòa hợp với nhau được chăng? Chúng tôi tin rằng được.

Về phía chúng tôi, những người tự nguyện làm công việc vận dụng kiến thức và tâm ý để phóng họa một hướng đi, chắc chắn chúng tôi không thể bỏ sót vấn đề vô cùng gai góc này. Bởi vì tôn giáo và khoa học vốn là Lưỡng cực trong triết lý Nhất nguyên. Tách rời hay bỏ một trong hai vấn đề này ra khỏi đời sống con người là một sai lầm đầy máu và nước mắt của nhân loại. Các phát triển khoa học ngày nay rõ ràng đang lấn lướt tôn giáo, một giá trị tâm linh cực kỳ quan trọng trên đường đi của chúng ta.

Tuy nhiên những tin tức khoa học mấy năm qua đã cho thấy những khám phá mới ngoài trái đất và con người đang buộc các nhà thiên văn, các nhà khoa học vật lý xem xét lại quan điểm của họ về nguồn gốc vũ trụ và nêu lên những câu hỏi ngàn xưa liên quan đến sự hiện hữu của loài người: Vũ trụ và sự sống đã bắt đầu như thế nào và tại sao?

Các khoa học gia, khi gặp được cái cốt lõi tận cùng của con người, tức là cái bản đồ về bộ GEN người vừa được hoàn thành gần đây, cũng đã phát sinh nhiều câu hỏi: Vô số hình thái khác nhau của sự sống đã được tạo nên như thế nào? Và, ai đã sáng tạo ra những cái GEN đó?

Cái GEN với những phần thiết kế cực kỳ phức tạp của con người đã khiến cho một tổng thống Mỹ phát biểu:

Chúng ta đang học một thứ ngôn ngữ mà Thượng đế đã dùng để tạo nên sự sống!”.

Một trong các nhà khoa học chủ chốt của chương trình giải mã GEN đã khiêm tốn nhận xét:

Lần đầu tiên chúng ta được nhìn thấy tận mắt cẩm nang của chính mình mà trước đây hình như chỉ ông Trời mới biết”.

Nhưng các câu hỏi vẫn còn nằm đó:

  • Sự sống và vũ trụ bắt đầu như thế nào?
  • Sự sống và vũ trụ là những kiến trúc cực kỳ phức tạp, vô cùng huyền diệu không thể là một ngẫu nhiên.
  • Tại sao chúng hiện hữu?

Một số khoa học gia cho rằng mọi vận hành trong vũ trụ đều có thể được giải thích bằng phân tích lý luận của toán học mà không cần đến sự khôn ngoan siêu phàm nào. Nhưng lại cũng nhiều khoa học gia khác cảm thấy quan điểm đó không thỏa đáng. Vì thế họ cố gắng tìm hiểu sự thực qua cả hai lăng kính: khoa học và tôn giáo. Họ nghĩ rằng:

  • Khoa học giúp lý giải sự sống và vũ trụ quanh ta hiện hữu như thế nào.
  • Tôn giáo chủ yếu cho biết tại sao vũ trụ hiện hữu?

Nhà vật lý học Freeman Dyson nói:

“Khoa học và tôn giáo là hai cánh cửa mà qua đó người ta cố gắng tìm hiểu vũ trụ bao la bên ngoài”.

Tác giả William Rees-Mogg viết:

“Khoa học nghiên cứu những gì đo lường được, còn tôn giáo nghiên cứu những điều không thể đo lường được.”

Ông cũng nói:

“Khoa học không thể chứng minh hoặc bài bác sự hiện hữu của Thượng đế, cũng như nó không thể chứng minh hoặc bài bác một quan điểm đạo đức hay thẩm mỹ. Không có một lý do khoa học nào khiến người ta yêu thương người lân cận hay tôn trọng sự sống của con người… Cho rằng không có điều gì hiện hữu mà không thể được chứng minh bằng khoa học là sai lầm, là ấu trĩ. Những nhận định ngông cuồng đó có thể dẫn đến việc phủ nhận hầu hết mọi thứ chúng ta xem là giá trị trong đời sống nhân loại, chẳng những trong phạm vi Thượng đế hay trí tuệ con người mà cả tình yêu, thi văn và âm nhạc…”

IV/10B .- Khoa học mà cũng có đức tin và tín lý hay sao?!

Học thuyết của một số khoa học gia phản đối tôn giáo dường như thường dựa trên các tiền đề đòi hỏi phải có một loại “đức tin” nào đó. Chẳng hạn, khi nghiên cứu về nguồn gốc của sự sống, hầu hết những người chấp nhận thuyết tiến hóa bám chặt vào các ý kiến đòi hỏi người nghe phải tin vào một số “tín lý” nhập nhằng các dữ kiện thật trộn lẫn với giả thuyết.

Khi các khoa học gia đó dùng thẩm quyền của mình để áp đặt niềm tin mù quáng vào thuyết tiến hóa, rõ ràng họ muốn nói: “Bạn không phải chịu trách nhiệm về hành vi đạo đức của chính mình vì bạn chẳng qua là một sản phẩm của sinh học, hóa học và vật lý”.

Nhà sinh vật học Richard Dawkins phát biểu trong một đại hội các Khoa học gia:

“Trong vũ trụ không có sự thiết kế, không có mục đích, không có điều ác, điều thiện, không có sáng tạo gì cả ngoài sự hờ hững vô nghĩa”.

Để bảo vệ niềm tin đó một số khoa học gia đã dứt khoát bỏ ngoài tai mọi ý kiến trái ngược với những giả thuyết căn bản của họ về nguồn gốc sự sống. Quả nhiên các Khoa học gia này đã lập thêm một tôn giáo mới: “Tôn giáo Khoa Học Chân Giả Tròng Tréo”.

IV/10C .- Lý do cần phân biệt mỗi phần vụ trong xã hội

Ngày nay, việc phát giác ra GEN với sự hình thành cực kỳ phức tạp của các phân tử cần thiết để tạo thành một tế bào sống là điều không thể có được trong toán học và suy lý. Bởi thế học thuyết võ đoán về nguồn gốc sự sống và vũ trụ hiện hữu đang được thế giới soát xét lại.

Albert Einstein thừa nhận:

“Trong giới khoa học gia uyên thâm, không thiếu những người có một tư duy tôn giáo nào đó của riêng họ… Tư duy tôn giáo đó thể hiện qua sự thán phục sâu xa trước sự hài hòa của quy luật tự nhiên, cho thấy có một trí thông minh siêu đẳng mà so với nó, tất cả sự thành đạt của loài người chỉ là sự phản chiếu hoàn toàn vô nghĩa. Tuy nhiên sự thán phục đó không nhất thiết sẽ khiến các nhà khoa học tin có đấng Tạo hóa hay một đức Chúa Trời thật…”

Mục tiêu của khoa học là mô tả các hiện tượng trong thế giới tự nhiên và giúp giải đáp câu hỏi các hiện tượng đó được hình thành như thế nào. Khoa học giúp ta hiểu biết sâu xa hơn vũ trụ vật chất nhưng khoa học không thể trả lời cho ta tại sao vũ trụ hiện hữu.

Khoa học gia Allan Sandage đã nói lên một câu rất hay mà chúng tôi cố tìm cho phần kết luận đoạn sách này:

Tôi không đọc sách sinh vật để học cách sống”

Thật là chí lý! Học làm cách nào để sống thì cần phải tìm đọc các loại sách nói về Người hay sách nói về Tôn giáo!

IV/11 .- ÂU CHÂU & CUỘC CÁCH MẠNG XÃ HỘI

Khởi đầu là cuộc cách mạng kỹ nghệ ở Anh quốc, sau đó truyền qua Pháp và các nước lân cận. Ở Pháp, sau cách mạng năm1789, giai cấp phú hào nhờ kỹ nghệ và thương mãi mà thay thế giai cấp địa chủ của quý tộc và giáo sĩ . Bọn phú hào tham lam bòn rút sức lao động của công nhân tạo thành một giai cấp mới: giai cấp công nhân.

Đời sống thợ thuyền từ đó cực kỳ khổ cực, làm việc mỗi ngày 13 giờ, trẻ em cũng phải đi làm mà gia đình lúc nào cũng đói rách. Đau ốm mà nghĩ việc thì không được lãnh tiền công, rủi bị tai nạn thì bị đuổi và không được bồi thường, cứu trợ, hơi trái lịnh chủ là bị cúp lương. Nơi làm việc tối tăm, thiếu an toàn, dơ bẩn và nạn thất nghiệp lúc nào cũng có thể xảy ra.

Chủ nhân tha hồ bóc lột công nhân mà chính quyền thì nhắm mắt làm ngơ. Chỉ vì họ đeo đuổi lý thuyết “Kinh tế tự do cạnh tranh là yếu tố thăng bằng trong xã hội và là động cơ của sự tiến hóa” nên không muốn can thiệp, không muốn binh vực cho giới công nhân và dân nghèo.

Bị bóc lột, bị ngược đãi thì sự phản kháng của dân nghèo mỗi ngày một tăng lên. Năm 1848 thợ thuyền nổi loạn ở Pháp. Phong trào chống đối chủ nhân bóc lột dần dần lan tràn qua các nước Trung Âu, Nam Âu rồi vượt Đại Tây Dương qua Bắc Mỹ.

Cuộc nội chiến Bắc, Nam của Hoa Kỳ vào những năm 1861-1865 mà nguyên nhân là các tiểu bang phương Bắc muốn giải phóng nô lệ da đen còn các tiểu bang phương Nam thì chống lại và đòi ly khai là ảnh hưởng trực tiếp từ cuộc nổi dậy của giai cấp thợ thuyền Pháp (1848). Nhờ tổng thống Mỹ, Abraham Lincoln, khéo léo lãnh đạo, phía Bắc đã chiến thắng phe Nam Mỹ, từ đó chế độ nô lệ và kỳ thị chủng tộc chính thức bị bãi bỏ và duy trì được sự thống nhất của nước Mỹ.

Một thời gian ngắn sau cuộc nổi dậy của thợ thuyền, với sự trợ lực của các triết gia, kinh tế gia như Robert Owen, Saint Simon, Louis Blanc, Fourier… châu Âu dần dần thay đổi bộ mặt xã hội, cởi mở, đẹp hơn phần nào so với trước. Số giờ làm việc của công nhân mỗi ngày một rút ngắn bớt, trẻ em được bảo vệ, được đi học, công nhân có quyền lập nghiệp đoàn. Quyền bãi công, quyền khi đau ốm vẫn được hưởng lương, tiền phụ cấp vợ con.

Tuy nhiên, sau các cuộc cách mạng kỹ nghệ, cách mạng thợ thuyền ấy, thế giới vẫn tiếp tục tràn ngập máu và nước mắt. Chính sách bành trướng đế quốc của các nước ở châu Âu điển hình là Tây Ban Nha, Pháp, Anh, Đức, Nga, Bồ Đào Nha, Hoa Kỳ… Biết bao nhiêu cuộc đàn áp, bóc lột, giết chóc ghê rợn ở các thuộc địa và biết bao cuộc cách mạng đẫm máu chống đế quốc xâm lăng đã xẩy ra?

Lịch sử thế giới trước và sau Công nguyên, nhân loại luôn luôn sống trong sự hãi hùng của chiến tranh tàn phá và hỗn loạn. Chiến tranh địa phương, chiến tranh liên quốc, chiến tranh tôn giáo, chiến tranh đế quốc… khiến xã hội loài người hầu như không bao giờ yên ổn. Thế rồi bước sang thời kỳ Phục hưng, người ta cởi bỏ ách tôn giáo mà chưa tìm được đạo thì nhân loại đã vội vã bước sang thế kỷ 19, 20 là thời đại khoa học cơ khí tiến lên rầm rộ chẳng những làm át đi giá trị nhân văn vừa mới phục hưng mà còn gây cho nhân loại ba lần mang trọng bệnh cực kỳ ngặt nghèo : phát xít*, quốc xã** cộng sản*** đồng thời đẩy thế giới bước sang một giai đoạn ngập tràn các biến động cực kỳ thảm khốc không lường được.

* Phát xít : Thường là một đảng do quân nhân cầm quyền. Giới quân nhân, bình thường xong trung học thì vào trường huấn luyện sĩ quan học các bộ môn chuyên nghiệp của quân đội. Truyền thống quân đội là ra lệnh và tuân lệnh. Do đó họ thiếu các khả năng lãnh đạo đất nước, nhưng họ lại thích đồng hóa mình với tổ quốc và dân tộc. Họ trở thành độc tài, dùng công an, quân đội khủng bố dân chúng trắng trợn; kiểm duyệt sách, báo chí gắt gao; kiểm soát chặt chẽ sự đi lại, nhóm họp của dân chúng. Nguy hiểm nhất là họ thích gây chiến tranh để lấy cớ đàn áp dân chúng hoặc hóa giải sự phẫn nộ của mọi người để giữ vững quyền lực…

** Quốc Xã: Tập đoàn lãnh đạo bị bệnh đề cao chủng tộc mình một cách quá đáng và coi rẻ cũng như kỳ thị, tàn nhẫn hoặc tận diệt những người khác chủng tộc. Họ cho rằng, chỉ có chủng tộc của họ mới đủ tài năng lãnh đạo các nước trong vùng hoặc thế giới. Do vậy họ chủ trương gây chiến để phân chia lại ranh giới hoặc độc chiếm thế giới.

*** Cộng sản: Là loại bệnh trầm kha, lây lan mau và rất khó chữa trị. Chỉ trong khoảng nửa thế kỷ chủ nghĩa cộng sản hành hoành gần một nửa địa cầu và gây dị ứng khắp nơi trên thế giới. Họ giản lược con người vào yếu tố kinh tế vật chất, lợi dụng danh nghĩa chiến tranh giải phóng các dân tộc nhược tiểu để mong tiến tới bá chủ hoàn cầu.

Tuy nhiên, cho đến cuối thập niên 90, chủ nghĩa cộng sản đi vào tàn lụi. Hiện nay chỉ còn vài nước còn cố bám vào danh xưng cộng sản để duy trì quyền lực chứ thực chất thì đã thay đổi theo con đường tạm gọi là kinh tế thị trường.

Thời kỳ khoa học cơ khí đã gây ra một giai đoạn nước mạnh xâm lăng nước yếu để chiếm đoạt đất đai, tài sản và cưõng bức lao động các dân tộc bị trị. Kinh hoàng nhất là các dân tộc da đen ở Phi châu, họ bị các nước Tây phương săn lùng, bắt giết, buôn bán làm nô lệ. Đã có hàng ngàn bộ tộc da đen ở Phi châu bị tàn phá, hàng trăm triệu người đã bị bắt, bị giết vô cùng man rợ. Hai cuộc chiến tranh thế giới 1916-18 và 1938-45 là những đại họa vô cùng tàn khốc của nhân loại cũng do hệ lụy của chủ nghĩa suy lý nhất nguyên (một chiều) của Tây phương.

Năm 1945, tổ chức Liên Hiệp Quốc được thành lập tại Cựu Kim Sơn, Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền được công bố. Đây là một bản văn lịch sử vô cùng quan trọng đề cập tới giá trị của con người và quyền công dân… Tuy nhiên, các vấn đề thuộc về tinh thần như lương tri, đạo đức, tâm linh, tâm thức… thì vẫn là những hình ảnh xa lạ không thấy đề cập tới.

Tại sao suốt 200 năm (1800-2000), triết lý Nhân bản Suy lý Tây phương đã không xây dựng được thanh bình, hạnh phúc cho chính họ và cho thế giới?

- Khi Aristote định nghĩa: “Người là con vật biết suy lý” (animal raisonable), ông đặt con người vào phạm trù toán học thì tất nhiên nền nhân bản sẽ được dẫn dắt theo các lộ trình toán học, lý luận và đòn phép. Do đó, trong suốt 25 thế kỷ kể từ ngày thuyết nhân bản được Socrate, Aristote đề xướng và được xem là một hảo ý rất đáng ca ngợi nhằm giải phóng con người thoát khỏi thần minh, dành lại quyền làm người. Tuy nhiên, quán tính đã đưa nó đi quá xa, vô tình đẩy con người rời khỏi những giá trị tư tưởng mà nhân loại sau gối đầu lên nhau xây dựng từ nhiều ngàn năm trước. Quả nhiên, đây là điều bất hạnh cho loài người trong hai thế kỷ 19 và 20 vậy.

Triết gia Lương Kim Định đã ghi lại trong sách Nhân chủ một vài ý kiến của các triết gia nổi danh phương Tây phê phán về văn minh Tây phương khiến ai đọc lên cũng không giật mình:

Max Scheller viết: “Cái lầm chí tử của Tây phương thế kỷ 18, 19 là đã dẫn nhân loại đi theo mẫu người như một hữu thể chỉ biết suy lý…”

Schopenhauer: “Một sai lầm phổ quát có từ lâu đời, cần phải được tẩy bỏ đi…”

Heidegger: “Đã từ lâu, chúng ta bị một mớ lộn xộn của những tư tưởng và khái niệm mượn từ trong các môn đó (ám chỉ triết lý Nhân bản Hy-Lạp). Mọi vấn đề của con người đều được giải quyết trên một câu định nghĩa sai lầm”.

Và, chính triết gia Lương Kim Định cũng đã viết: “Nên đó tuy là một cuộc trở về với con người nhưng chưa đi đến cùng tột, chưa bàn đến cùng lý. Chỉ mới đi tới lý trí đã vội dừng lại, mà lý trí thì đâu phải là phần sâu thẳm của con người, bên trong lý trí còn có tiềm thức, lương tri và cõi tâm linh”.

Bàn thêm về Hiện sinh :

Hiện sinh (hiện đang sống) là trào lưu triết học hiện đại. Tuy nhiên triết học hiện sinh còn rất rời rạc, chưa có sự đồng nhất. Họ cho rằng, sự sống có trước bản thể, nghĩa là bản thể của con người chỉ được bắt đầu sau khi xuất hiện sự sống của người đó. Bản thể đó tiếp tục được đắp bồi mỗi ngày một vươn lên cao… Nếu chỉ giải quyết cho bản thể mà không lưu tâm tới sự sống thì không đúng. Cho nên cuộc sống hiện tại của con người không thể bị giới hạn bởi một mẫu bản thể nào cả vì con người có một tự do tuyệt đối để sự sống của họ phát triển trên mọi chiều hướng mà tôn giáo, truyền thống, luân lý, đạo đức, pháp luật… không thể xâm phạm hay ngăn chặn…

Hiện sinh đả kích triết học cổ điển không biết gì đến con người. Con người Nhân bản của xã hội Tây phương ngày nay là một thứ mơ mộng, xa xỉ của giai cấp trưởng giả. Họ tố cáo các tôn giáo, mọi thứ huyền niệm và những gì gọi là truyền thống xã hội là phi nhân (deshumanisation)…

Bù lại, Hiện sinh duy trì và phát triển một chủ điểm duy nhất: Lấy con người làm trung tâm điểm và là đối tượng suy tư.

Từ các điểm trên, chúng ta thấy Hiện sinh hướng về duy nhân, vô thần, chối bỏ phẩm hạnh cá nhân, truyền thống đạo đức, luân lý xã hội và tâm linh con người. Về mặt duy nhân, họ sống buông thả, không cho ai, không ngày mai. Ở một mức độ nào đó, họ tỏ ra có quan tâm tìm phương hướng kiến thiết con người. Tuy nhiên, chủ trương của họ vô tình đã làm họ tách rời mọi trật tự của cộng đồng nhân loại hiện nay.

Những triết gia hàng đầu của Hiện sinh như Husserl, Berdinaeff, Jean Paul Satre, G. Marcel… dù đã tìm mọi cách vận động cho Hiện sinh vẫn chưa tìm ra được một lối đi hợp tình hợp lý mà vẫn còn rất lúng túng và tiêu cực. Những tư tưởng này trái lại đang đi vào thoái hóa.

IV/12 .- KẾT LUẬN IV

Nói chung, triết học Tây phương chưa thành công trong việc thiết lập một nền nhân bản hoàn hảo mặc dù nó hiện diện trong văn chương, trong thi ca do tính phóng khoáng của lương tri con người chứ chưa đặt được nền tảng triết học để làm kim chỉ Nam trong việc dẫn dắt con người đi tới chân thiện mỹ.

Văn minh thế giới cuối thế kỷ 20 rõ ràng nhờ vào thành quả của triết lý Nhân bản Suy lý Tây phương với những thành quả tiến bộ về Khoa học kỹ thuật mà xã hội loài người trở nên có tổ chức hơn, vật chất dư thừa và kiến thức nhân loại vươn lên rất cao hầu như trong mọi lãnh vực. Có điều ai cũng thấy, sự ổn định của con người, của gia đình, của xã hội và hòa bình thế giới vẫn còn đầy bất trắc. Rõ ràng nền văn minh Tây phương hiện nay chưa hoàn thiện.

HÁT BỘI PHA CẢI LƯƠNG

Read more »

Nhạc Giáng Sinh (Mariah Carey hát)

Read more »

Nhạc Giáng Sinh : Little Drummer Boy


Chú Bé Đánh Trống

nguyên tác: The Little Drummer Boy
lời Việt: Phạm Duy
trình bày: Ngọc Lan

Người ơi ! Ðến nhé (pa rám păm pắm păm)
Ðể cùng coi Chúa giáng thế (pa rám păm pắm păm)
Quà tặng đâu, xin mang theo (pá rám păm păm pằm)
Qùy lạy bên chân ngôi cao (pa rám păm păm pằm)
(rám păm păm pùm, rám păm păm pằm)
Quà dâng tới Ðức Chúa (pa rám păm pắm păm)
Ơi người ơi người !

Hài nhi Giê Su (pa rám păm pắm păm)
Lạy Ngài ! Con, bé đánh trống (pa rám păm pắm păm)
Nghèo nàn nên đôi tay không (pá rám păm păm pằm)
Vì lòng yêu thương Giê Su (pá răm păm păm pùm)

Ðể con đánh tiếng trống (pa rám păm pắm păm)
Con (ờ) dâng Người.

Mẹ Ma-ri-a (pa rám păm pắm păm)
Gật đầu cho phép đánh trống(pa rám păm pắm păm)
Lòng thật vui, con khua vang (pá răm păm păm pằm)
Nhịp này đây con dâng lên (pá răm păm păm pằm)
(rám păm păm pằm, rám păm păm pằm)

Nhìn con đánh trống, Chúa (pa rám păm pắm păm)
Vui… vui cười Read more »

Nhạc Giáng Sinh Ngoại Quốc

Read more »

Nhạc Giáng Sinh Việt Nam

Tụy Tâm Ngư

Chưa khi nào anh yêu chị, nhưng vẫn sống cùng chị đến cuối đời. Từ lúc còn trẻ, anh đã sớm thành danh trong giới văn nghệ sĩ. Cha mẹ anh dường như biết được rằng người nghệ sĩ tâm hồn phóng khoáng nên họ đã cưới chị cho anh rất sớm. Read more »

Bán Chồng Cho Bạn

Đúng là sống phải biết BUÔNG XẢ.

Không ai có thể quay lại quá khứ để thay đổi những lỗi lầm của chính mình.
Nhưng ta có thể bắt đầu ngay bây giờ nhận ra những lỗi lầm của chính mình để tránh những sai phạm trong tương lai.
Hãy là tấm gương soi rọi cho chính bản thân mình.
Vì chỉ khi ấy thân bạn mới
AN. Và tâm bạn mới LẠC. Và cũng cầu mong rằng tất cả chúng ta thân tâm luôn AN LẠC.

Read more »

Tuổi Già (Trần Mộng Tú)

 

Bạn có bao giờ ngắm kỹ một con hạc trắng chưa? Nó trông thật mảnh mai; chân dài, người mỏng, trong một bộ lông trắng muốt. Trông nó thanh cao như một người luống tuổi mà vẫn giữ được phong cách ung dung.. Con hạc được coi là một con vật sống lâu cho nên người ta gọi tuổi của các cụ là tuổi hạc. Read more »

Cái Muỗng (Văn Quang)

CÁI MUỖNG

::: Văn Quang :::

I. Tôi không nhớ rõ năm đó là năm thứ mấy chúng tôi “học tập cải tạo”, chỉ biết rằng đã có những người “quen” với những ngày tháng cực khổ, dài lê thê trong những căn nhà giam được “xây dựng” bằng đủ thứ kiểu giữa những vùng rừng núi âm u. Ở Sơn La thì “trại” được làm trên những nhà tù từ thời xa xưa, chỉ còn lại những cái nền nhà lỗ chỗ, người ta dựng vách đất trộn rơm, mái lợp bằng các kiểu lá rừng, miễn sao che kín được khung trời. Read more »

Cẩn thận đừng lạm dụng cây Nha-Đam (Aloe Vera)

Cẩn thận đừng lạm dụng cây Nha-Đam (Aloe Vera)

Nha đam, tên khoa học Aloe vera, A.barbadensis, A.vulgaris. Theo y học cổ truyền nha đam có vị đắng, tính hàn, tác dụng sát trùng, thanh nhiệt, thông tiện, làm mát gan, chữa các chứng rối loạn tiêu hóa, ăn uống không tiêu, làm thuốc nhuận tràng… Read more »

Một Ngày Không Thể Quên


MỘT NGÀY KHÔNG THỂ QUÊN
::: Phương Lan ::::

Hôm nay là ngày quyết định sẽ đưa mẹ vào Viện dưỡng lão. Cả đêm qua thao thức không ngủ được, Phượng trằn trọc xuốt đêm, nghĩ ngợi lan man hết chuyện này sang chuyện khác, lòng rối như tơ vò. Gần sáng nàng mới mệt mỏi thiếp đi, nhưng vừa chợp mắt được một lát, Phượng bỗng choàng tỉnh dậy vì một mùi khét từ nhà bếp xông lên làm nàng tỉnh hẳn ngủ. “ Thôi chết rồi, mẹ lại quên tắt bếp ” Phượng nói thầm như vậy, rồi không kịp xỏ dép, nàng hốt hoảng chạy thật nhanh xuống nhà dưới. Read more »

Pháp-môn Lạy Phật

PHÁP-MÔN LẠY PHẬT

Trong truyền thống tu tập Việt Nam, pháp môn Lạy Phật là một pháp môn rất phổ biến được thực tập trong hàng xuất gia cũng như tại gia. Trong các chùa cứ vào những ngày mười bốn và ba mươi âm lịch đều có các buổi lạy Hồng Danh Sám Hối. Bây giờ tại hải ngoại chúng ta cũng vẫn tiếp tục tu tập theo truyền thống đó. Như thế đủ chứng minh tính mầu nhiệm của pháp môn này. Tuy nhiên, lâu nay chúng ta thực tập thấy có an lạc và lợi ích thiết thực cho thân và tâm, nhưng không hiểu rõ nguyên nhân tại sao. Trong bài này chúng ta sẽ cố gắng tìm hiểu những lý do nào khiến pháp môn này mang đến cho chúng ta những lợi lạc mầu nhiệm đó. Read more »

ĐƯỜNG TA ĐI: Chương III

Chương III

BIỆT SẮC ĐẶC THÙ CHỦNG VIỆT

III/1 .- VẦNG NHẬT

Từ thời thượng cổ, hầu như dân tộc nào cũng quan tâm mặt trời và tôn thờ mặt trời như một vị thần linh đầy quyền năng và sức mạnh. Đó là điều dễ hiểu. Tuy nhiên các dân tộc Miêu, Viêm về sau gọi là Bách Việt cũng thờ vầng nhật thì có chi lạ? Read more »

Úy và Húy

Nhân có nhiều bạn email hỏi Lê Thy : “tham sinh úy tử” hay “tham sinh húy tử”, hôm nay Lê Thy xin trả lời chung như sau:

A- ÚY

Có 5 chữ “Uý” khác nhau:

1- Úy = 畏 = Sợ

Thí dụ:

  • Hậu sinh khả úy (後生可畏) = Có nhiều kẻ sinh sau (thuộc thế-hệ sau) (thông-minh, tài-giỏi) rất đáng sợ (rất đáng nể)

  • Tham sinh úy tử (貪生畏死) = Ham (Tham) sống sợ chết.

2- Uý = 尉 = Cấp sĩ quan thấp trong quân đội

Thí dụ:

  • Thiếu-uý (少尉),

  • Trung-uý (中尉),

  • Đại-úy (大尉) …

3- Uý = 慰 = An ủi

Thí dụ:

  • Úy lạo (慰勞), còn đọc là Uỷ lạo = An-ủi vỗ-về

4- Uý = 熨= Ủi (quần áo) cho phẳng

Thí dụ:

  • Úy y-phục (熨衣服), còn đọc là Uất y-phục = Ủi quần áo.

5- Uý = 蔚 = Văn-vẻ, tươi-đẹp

Thí dụ:

  • Văn phong úy khởi (文風蔚起) = Văn-phong hoa-mỹ.

B- HÚY

Chỉ có một chữ “Huý” thôi

Huý = 諱 = Kiêng, tránh, để tỏ lòng kính trọng

Thí dụ:

  • Húy danh ( 諱名) = Tên kiêng, không được gọi (tên tổ tiên, tên ông bà, tên vua chúa)

  • Huý kỵ (諱忌) = Tránh né

Tập Thở Và Vận Động Để Trị Bệnh Đau Nhức.

Một tờ báo Mỹ có kể một câu chuyện về một người đi ăn trộm, đang mò mẫm trong bóng tối bỗng đụng chạm làm rơi một món đồ gì đó, khiến ông chủ nhà thức giấc. Anh ăn trộm hoảng quá, đứng chết trân tại chỗ, chờ chủ nhà kêu 911. Nhưng bất ngờ, ông chủ nhà chỉ rên rẩm và nói:

- Ăn trộm hả? Muốn lấy gì thì lấy đi. Nhưng, trước khi đi, đưa giùm tôi lọ thuốc phong thấp ở trên bàn đó và một ly nước nữa. Tôi đang đau quá,không dậy nổi.

Anh trộm chưng hửng một lúc, nhưng rồi cũng đưa lọ thuốc và nước cho chủ nhà xong, rồi chậm rãi nói:

- Ông bị đau nhức đầu gối phải không? Tôi cũng bị.. Nhưng uống thuốc này không hết đâu. Tôi dùng thuốc khác.

Chủ nhà vừa rên vừa hỏi:

- Thuốc gì vậy? Viết tên thuốc được không?

Anh trộm viết tên thuốc rồi vừa đưa cho ông chủ vừa nói:

- Tôi dùng thuốc này mới hết. Nhưng vì trước đây, đau quá, mất ngủ ban đêm quen rồi, nên bây giờ, hết bệnh, không biết làm gì cho hết đêm, đành đi ăn trộm ….Ông tha cho tôi. Tôi đi về nhé!

Nói xong, anh trộm ra mở cửa, đi về. Ông chủ nhà gọi với theo:

- Cám ơn nghe. Đêm nào mất ngủ, cứ tới đây, nói chuyện chơi.

Bài báo nói lên được một thực trạng về bệnh tật mà bao người Mỹ đang mắc phải: bệnh Đau nhức các khớp xương, hay còn gọi là Phong thấp, mà tiếng Mỹ gọi là Arthritis.

Có hai loại Đau nhức: Osteoarthristis, tạm gọi là loại Một (cho các vị cao niên dễ nhớ) và Rheumatoid Arthritis mà ta tạm gọi là loại Hai.

Loại Một gây ra những đau nhức ở cổ, vai, bàn tay, ngón tay, đầu gối, xương chậu… Nguyên nhân thường là do tuổi tác (phụ nữ trên 45 tuổi có thể mắc bệnh này), thoái hóa xương, di truyền, bệnh mập phì, hay do những động tác không ngay ngắn được lập đi lập lại lâu ngày như ngồi ghế cong lưng, ngồi lái xe mà thắt lưng bị bẻ cong, nghiêng đầu sang một bên, tay đánh máy suốt ngày không thư dãn, đứng một vị thế cong trong nhiều giờ, nhiều ngày…. Trên nước Mỹ có tới 21 triệu người bị đau loại Một.

Loại Hai cũng đau ở các đốt xương, có thể sưng lên, làm biến dạng xương, khó đi đứng, cử động. Loại này có trên 2 triệu nguời mắc bệnh. Nguyên nhân có thể do hệ thống miễn nhiễm không làm việc tốt, bị di truyền, hay vì thời tiết thay đổi đột ngột.

Nói chung cả hai loại đều gây đau nhức, nhiều người cảm thấy “khốn khổ, khốn nạn” khi bị các cơn đau hành hạ. Hoặc đi một lúc thì cảm thấy nhức chân, rồi đi lệch lạc. Hoặc ngủ không nổi vì khớp xương đầu gối buốt quá. Hoặc ngồi lâu thì tê hai bả vai…

Thường thì có ba (3) cách điều trị các bệnh đau nhức :

  • Thuốc uống (Medication),

  • Giải phẫu (Surgery)

  • Không dùng thuốc (Non-medication).

Hai phương pháp đầu tiên, dĩ nhiên, là phải qua Bác sĩ.

Phương pháp thứ Ba: Không dùng thuốc lại gồm ba cách:

  • Châm cứu,

  • Vật lý trị liệu,

  • Tập luyện (exercise).

Trong ba cách này, Tập Luyện (Exercise) dễ hơn cả và tác dụng lâu bền hơn cả. Châm cứu có tác dụng tức khắc, nhưng cũng hết tác dụng nhanh lắm. Vật Lý trị liệu cũng thế. Khi được Mát xa, thì thấy rất “đã”, nhưng chỉ một ngày sau là lại đau như cũ. Vậy chỉ còn các TẬP LUYỆN lấy một mình, không tốn tiền, không phải giải phẫu, cũng không phiền ai, nhưng chỉ cần Ý CHÍ tự thắng mà thôi.

Người viết bài này, chỉ còn một ít chỗ khớp xương nào còn nguyên vẹn mà chưa lần …gẫy. Tuổi trẻ, đi tập đủ loại võ nghệ: Nhu Đạo, Thái cực Đạo, Hapkido, Aikido, Thiếu Lâm.. không môn nào mà không mang cho thân thể một lần trật xương, gẫy vỡ. Đấu vật thì cắm đầu xuống đất, lọi cổ tưởng chết. Rồi chống tay xuống đất, vỡ xương cổ tay, lọi cùi chỏ.. Nhẩy qua chướng ngại vật: gẫy vai (2 lần). Đá người thì bị lọi ngón chân. Vật người thì bị gẫy thắt lưng… Bó bột liên miên, hết tay lại chân. Vào nhà thương chích thuốc rồi qua Thầy Cự Thất bó gà, qua Thầy Tầu điểm huyệt, có lần nhờ thầy Cao Miên thổi bùa cho lành vai… Tất cả những lần gẫy vỡ ấy, tuổi thanh niên sung sức chẳng coi nhằm nhò gì, giờ này, mới thấy thấm thía: đau nhức khắp người. Muốn hết đau nhức mà không muốn uống thuốc, không chích Cortisone, không đi Bác sĩ chỉnh xương, thì phải tập luyện hoài hoài, ngưng tập là .. đau! Cho nên, viết bài này để chia sẻ những ai đau đớn vì bệnh phong thấp, nhức xương, mong mọi nguời cùng khỏe.

Nguyên lý:

Hệ thống thần kinh của con người chạy cùng khắp thân thể, chỗ nào cũng có, từ đầu cho tới ngón tay, ngón chân. Tuy nhiên, theo hình vẽ về hệ thần kinh được treo tại các phòng mạch Tây, Đông Y, ta thấy chùm dây thần kinh đi từ sau ót tỏa ra cánh tay, xuống lưng, qua xương sống, tới hông, đùi, rồi chân (trông như một bó dây điện) là chùm quan trọng nhất. Nếu bị “kẹt” đâu đó, thì đau. “Kẹt” trên cổ có thể gây đau ra cánh tay, bàn tay. “Kẹt” thấp xuống dưới thì đau bắp thịt lưng, đau thắt lưng, “kẹt” ở chỗ thắt lưng lại gây đau ở đùi, chân… Cho nên, khi bị đau quá vì xương thoái hóa hay vì đụng xe, mà phải giải phẫu, bác sĩ sẽ cân nhắc rất kỹ. Mổ ở thắt lưng, nếu “xui”chạm giây thần kinh, có thể bị liệt chân mà thôi, nếu mổ ở cổ mà bị “xui”, có thể liệt cả người! Vì thế, chỉ những trường hợp đau cổ chịu hết nổi, bắt buộc phải giải phẫu thì phải ký giấy chấp nhận 50/50, một là khỏi, hai là đời xe lăn. Hên thì cũng có thể phải ghép một cây sắt vào trong cổ. Đôi khi phải mổ lại.. Chỉ còn cách Tập Luyện, cho thư giãn thần kinh chỗ gây đau, cho mạnh bắp thịt chỗ đau, cho khớp xương được chuyển động dịu dàng trở lại, kích thích chất nhờn đầu khớp xương phục hoạt, điều chỉnh lại những chỗ lệch lạc xương cốt, thì sẽ .. bớt đau (không phải HẾT đau, vì hễ ngưng tập một thời gian, có thể đau lại).

A- CHỮA ĐAU CỔ, ĐAU VAI, ĐAU TAY :

1- Xoay cổ trái phải: nhìn thẳng trước mặt, xoay cổ từ trái sang phải chầm chậm, mắt vẫn nhìn ra đằng trước, từ từ hít vào. Từ từ trả cổ trở lại phía trước, rồi xoay sang bên phải, mắt vẫn nhìn ra đằng trước, thở ra. Nhớ xoay cho hết cỡ, tới khi không xoay được nữa thì thôi. Làm 10 lần.

2- Gập cổ: ngửa cổ lên chầm chậm cho tới hết cỡ, từ từ hít vào. Chầm chậm gập cổ xuống ngực, hết cỡ, thở ra. Làm 10 lần.

3- Bẻ cổ: Mắt nhìn thẳng đằng trước, bẻ cổ nghiêng xuống đầu vai trái, hít vào. Từ từ thở ra, bẻ cổ qua đầu vai bên kia. (Khác với xoay cổ trái phải: ở đây, khi bẻ đầu xuống vai thì đầu vai có hơi nhô lên cho chạm với đầu, còn xoay cổ trái phải thì chỉ quay đầu vào khoảng trống sau vai mà thôi). Làm 10 lần.

4- Xoay cổ vòng tròn: Dùng điểm tựa là cổ, xoay vòng đầu chung quanh cổ, từ phải sang trái 10 lần rồi từ trái qua mặt 10 lần.

B- CHỮA ĐAU CÁNH TAY , BÀN TAY:

1- Xoay vai: hai tay buông thỏng, dùng đầu vai làm điểm tựa, xoay vai theo một vòng tròn chạy chung quanh đầu vai ( không phải nhô lên, hụp xuống) từ sau ra trước, rồi từ trước ra sau. 10 lần. Trong khi xoay vai, vẫn hít thở đều đặn.

2- Lắc bàn tay: giơ cánh tay ra trước mặt, cùi chỏ ép hai bên thân mình, giữ nguyên cổ tay và cánh tay, hai bàn tay để trước mặt, lòng bàn tay hướng vào phía ngực. Lắc từ trên xuống dưới (như giũ giũ bàn tay) thật mạnh 10 lần. Đổi hướng, cho mu bàn tay lên trên, lòng bàn tay hướng về mặt đất, giũ mạnh bàn tay từ trên xuống dưới. 10 lần. Đổi hướng, hai lòng bàn tay quay vào nhau, giũ mạnh bàn tay từ trái qua phải, từ phải qua trái. Những người thư ký đánh máy, làm “neo”, thợ may…. phải tập bàn tay thường xuyên, nếu không, có thể bị mổ cổ tay vì khớp xương cổ tay bị cứng khô lại.

3- Vẽ vòng trên đất: đứng rộng chân ra, một tay vịn vào mặt bàn, nguời nghiêng xuống cho song song với mặt đất, cánh tay buông thỏng, tưởng tượng như đang cầm một cái que, vẽ một vòng tròn tưởng tượng thật to trên mặt đất . Vẽ nhanh 10 lần rồi đổi tay. Hít thở đều hòa.

C- CHỮA ĐAU THẮT LƯNG, ĐÙI, CHÂN:

1- Xoay thắt lưng theo vòng tròn: hai tay chống hông, ngón tay để ra sau lưng, ngón cái phía trước, các ngón tay ấn mạnh vào thắt lưng, dùng thắt lưng làm điểm tựa, xoay vòng bụng ra trước rồi vòng qua bên phải (bên trái) ra sau, rồi vòng tới trước. Làm liên tục không ngừng, khi ra tới trước, thì bụng phải ưỡn ra hết cỡ. Khi ra sau thì thắt lưng cong lại cũng hết cỡ. Hít thở chầm chậm theo vòng.

2- Gập lưng: cũng như gập cổ, ngửa lưng ra, hít vào, gập thắt lưng xuống, thở ra. Khi ngửa lên, ngửa hết cỡ, khi gập xuống, cũng gập hết cỡ.

3- Xoay hông: hai tay buông thõng bên sườn, vặn người qua bên trái thì hai cánh tay cũng “văng” theo bên trái, nghĩa là không dùng sức tay, chỉ để cho hai cánh tay “văng” theo mà thôi. Xong, vặn người qua bên phải. Hai cánh tay lại “văng” theo bên phải. Nhớ khi xoay sang bên nào thì xoay gót chân bên đó, và bàn chân bên đó nhấc lên, nghĩa là xoay trên gót chân mà thôi. Mục đích làm cho vòng xoay rộng thêm, nếu giữ nguyên bàn chân trên mặt đất, vòng xoay sẽ ngắn lại. Hít thở chầm chậm.

D- CHỮA ĐAU ĐẦU GỐI:

1- Xoay gối trái phải: đứng vừa phải, hai bàn tay đặt trên đầu gối, thấp người xuống, xoay đầu gối theo một vòng tròn về phía phải (theo vòng kim đồng hồ) 10 lần rồi đổi hướng quay theo bên trái.

2- Xoay gối trong ngoài: đứng rộng chân ra, hai tay đặt trên đầu gối, thấp người xuống, xoay đầu gối từ ngoài vào trong rồi từ trong ra ngoài. Các thế đầu gối này, mới đầu thì chỉ thấp người xuống một chút, sau đó, mỗi ngày càng thấp người xuống hơn, công lực sẽ mạnh hơn. Chỉ cần làm 10 phút, là đã thở mạnh, toát mồ hôi rồi. Người nhức đầu gối ban đêm phải tập trước khi lên giường ngủ

Lưu ý:

- Những thế tập này chỉ được áp dụng với người chưa giải phẫu xương lần nào. Nếu đã giải phẫu cổ thì không được tập cổ. Nếu giải phẫu lưng rồi mà muốn tập lưng, phải hỏi bác sĩ, xem phim X-ray có trở ngại gì không..

- Phối hợp vừa châm cứu, vừa mát xa, vừa tập luyện thì rất tốt.

- Trường hợp đau kinh niên vì xương rồi, có thể uống thêm Glucosamine có bán tại các tiệm thuốc Tây để kích thích chất nhờn đầu xương và xương.

- Mua một cái máy mát-xa nhỏ cầm tay để chà xát chung quanh chỗ bắp thịt đau sẽ hiệu nghiệm nhanh hơn.

————-

Vài hàng trao đổi những kinh nghiệm trong suốt mấy chục năm qua, nếu có chi sai sót, mong cao nhân chỉ điểm thêm.

Chúc quý vị sống lâu, sống khỏe mạnh, và hạnh phúc.

Lê Quang Thọ

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.